Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, phản ánh sự hội nhập sâu rộng của nền kinh tế sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với tư cách thành viên thứ 150. Tính đến hết ngày 20/12/2012, các doanh nghiệp Việt Nam đã đăng ký thực hiện 712 dự án đầu tư tại 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký đạt 12,4 tỷ USD và quy mô vốn thực hiện lũy kế ước đạt 3,8 tỷ USD. Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm, nhu cầu mở rộng thị trường, khai thác tài nguyên và tìm kiếm nguồn lợi nhuận quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu.

Tuy nhiên, địa vị pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh ở nước ngoài đang đối mặt với nhiều khoảng trống và rủi ro pháp lý phức tạp. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu đồng bộ, chồng chéo giữa hệ thống pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia tiếp nhận đầu tư và các điều ước quốc tế đa phương, song phương. Mục tiêu cụ thể của công trình là làm rõ bản chất lý luận về địa vị pháp lý, phân tích thực trạng thực thi quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm bảo vệ tối đa lợi ích kinh tế quốc gia.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2012, đi sâu vào 4 địa bàn trọng điểm gồm Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Vương quốc Campuchia, Cộng hòa Liên bang Myanmar và Liên bang Nga. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc giải quyết bài toán hiệu quả kinh tế: cải thiện tỷ lệ giải ngân thực tế vốn đầu tư hiện chỉ đạt 20% đến 27% tổng vốn đăng ký, gia tăng tỷ suất sinh lời chuyển về nước đang ở mức khiêm tốn khoảng 1,33% đến 2,02%, đồng thời tạo hành lang pháp lý an toàn cho hơn 17.000 lao động đang làm việc tại các dự án quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết về tư cách pháp nhân và quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế, kết hợp lý thuyết nội luật hóa các cam kết thương mại - đầu tư đa phương. Hệ thống lý luận tập trung làm rõ mối quan hệ tương tác giữa ba hệ thống pháp luật cấu thành địa vị pháp lý của doanh nghiệp: pháp luật của quốc gia xuất xứ (Việt Nam), pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư (nước sở tại), và các điều ước quốc tế song phương (Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư - BIT) cũng như đa phương (Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN - ACIA, Hiệp định khung về dịch vụ ASEAN - AFAS).

Khung nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  1. Doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh ở nước ngoài: Thực thể kinh tế được thành lập theo pháp luật Việt Nam hoặc đăng ký kinh doanh tại nước sở tại theo các hiệp định đầu tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi liên tục.
  2. Địa vị pháp lý của doanh nghiệp: Tổng thể các quyền, nghĩa vụ pháp lý, năng lực hành vi và năng lực pháp luật được các hệ thống pháp lý liên quan thừa nhận và bảo đảm thực thi.
  3. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài: Hình thức nhà đầu tư chuyển vốn, công nghệ, tài sản ra khỏi biên giới lãnh thổ để trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh.
  4. Xung đột pháp luật và nguyên tắc đối xử quốc gia (NT), nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN): Các quy chuẩn pháp lý quốc tế bảo đảm sự công bằng và loại bỏ phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Nghiên cứu đối chiếu sự tương thích và mâu thuẫn giữa 03 đạo luật trụ cột của Việt Nam gồm Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005 và Luật Thương mại 2005 nhằm chỉ ra sự thiếu đồng nhất trong việc định danh điều kiện kinh doanh quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn được thu thập từ Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng báo cáo tổng kết của 300 doanh nghiệp có dự án đầu tư ra nước ngoài. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm toàn bộ 712 dự án được cấp phép trong giai đoạn 1989 - 2012 và khảo sát chi tiết 5 tập đoàn kinh tế nhà nước lớn gồm Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Tập đoàn Viễn thông Quân đội và Tổng công ty Sông Đà.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích được áp dụng nhằm tập trung vào các lĩnh vực chiến lược chiếm tới 71% tổng lượng vốn chuyển ra nước ngoài gồm dầu khí, khai khoáng, cao su và thủy điện. Các phương pháp phân tích cụ thể gồm:

  • Phương pháp phân tích quy phạm và luật so sánh: Đánh giá sự tương đồng và khác biệt giữa quy định pháp luật Việt Nam với hệ thống luật pháp của Lào, Campuchia, Nga và Myanmar.
  • Phương pháp thống kê mô tả và phân tích tổng hợp: Xử lý số liệu tài chính, dòng vốn chuyển dịch, tỷ suất lợi nhuận và biến động lao động.
  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét sự biến đổi của địa vị pháp lý doanh nghiệp trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế từ năm 2005 đến năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô dự án và vốn đăng ký tăng trưởng vượt bậc nhưng tỷ lệ giải ngân thực tế còn rất thấp. Trong giai đoạn 1989 - 2011, cả nước có 639 dự án với tổng vốn đăng ký đạt 11,016 tỷ USD. Riêng giai đoạn 2006 - 2011 chiếm tới 77,62% về số lượng dự án và 90% về tổng vốn đăng ký so với cả thời kỳ. Mặc dù vậy, tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký của giai đoạn 2006 - 2011 chỉ đạt mức 20%, thấp hơn mức bình quân 27% của toàn bộ giai đoạn 1989 - 2011.

Thứ hai, hiệu quả thu hồi vốn và tỷ suất lợi nhuận chuyển về nước ở mức rất thấp. Tỷ suất lợi nhuận chuyển về nước so với số vốn đã chuyển ra nước ngoài trong giai đoạn 1989 - 2010 chỉ đạt 2,02% và tính chung giai đoạn 1989 - 2011 chỉ đạt 1,33%. Trong tổng số 56 dự án của 5 tập đoàn nhà nước lớn với 1,349 tỷ USD đã chuyển ra nước ngoài, lợi nhuận chuyển về mới chỉ đạt 38,89 triệu USD, tương ứng tỷ suất sinh lời bình quân 2,88%.

Thứ ba, cơ cấu dòng vốn đầu tư phân bổ tập trung vào các ngành thâm dụng vốn với thời gian hoàn vốn kéo dài và tiềm ẩn rủi ro pháp lý cao. Các lĩnh vực khai khoáng, dầu khí, trồng cao su và thủy điện chiếm tới 71% tổng vốn đầu tư chuyển ra nước ngoài. Riêng ngành dầu khí đã chuyển ra 1,33 tỷ USD (chiếm 46% tổng vốn chuyển ra), nhưng đã có 6 trên 25 dự án phải dừng hoặc chấm dứt hoạt động mà không thu được lợi nhuận, làm tổn thất trực tiếp 29,02 triệu USD chi phí đã chi trả.

Thứ tư, tình trạng thiếu hụt khung pháp lý chuyên biệt và sự lỏng lẻo trong giám sát thực thi nghĩa vụ báo cáo. Hơn 50% doanh nghiệp không tuân thủ nghiêm túc chế độ báo cáo tài chính định kỳ theo Nghị định 78/2006/NĐ-CP. Nhiều dự án chuyển đổi hình thức hoặc chấm dứt hoạt động trước thời hạn tại nước sở tại nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi hay báo cáo xử lý dòng tiền với cơ quan quản lý trong nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan, môi trường chính trị - pháp lý của các nước sở tại như Lào, Campuchia đang trong quá trình chuyển đổi, thiếu tính đồng bộ và minh bạch. Trong thực tế, mặc dù Luật Khuyến khích đầu tư của Lào quy định chính sách ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trên toàn quốc, nhưng một số chính quyền địa phương vẫn tự ý ban hành quy định thu thêm các khoản thuế phí không chính thức. Tại Campuchia, sự khác biệt về văn hóa với khoảng 30 ngày nghỉ lễ trong năm cùng kỷ luật lao động bản địa hạn chế đã khiến tiến độ các dự án kéo dài, làm đội chi phí sản xuất lên từ 15% đến 25%.

Về mặt chủ quan, năng lực tài chính và quản trị quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ. Các doanh nghiệp thường hoạt động manh mún, thiếu sự liên kết thành chuỗi cung ứng, thậm chí cạnh tranh thiếu lành mạnh ngay tại thị trường sở tại thay vì hỗ trợ nhau. Dữ liệu nghiên cứu tại Biểu 1.1 về tỷ suất lợi nhuận và Biểu 1.2 về tình hình đầu tư của các tập đoàn nhà nước phản ánh bức tranh mất cân đối nghiêm trọng giữa dòng vốn chi ra và dòng tiền hồi hương. Việc trình bày dữ liệu qua biểu đồ so sánh đa chiều giữa vốn cam kết, vốn chuyển dịch và lợi nhuận thực thu giúp chỉ rõ khoảng trống rủi ro tài chính của khu vực doanh nghiệp nhà nước khi đầu tư ra nước ngoài mà thiếu vắng cơ chế kiểm toán độc lập tiền trạm.

So với các công trình nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Trần Thị Hòa Bình (1996) chỉ tập trung vào quyền sở hữu nội địa của doanh nghiệp nhà nước, hay nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2008) chỉ dừng ở góc độ chính sách khuyến khích vĩ mô, luận văn đã đi sâu làm sáng tỏ quyền và nghĩa vụ pháp lý đa diện của doanh nghiệp, đặt trong sự tương quan trực tiếp giữa pháp luật quốc gia và các hiệp định đầu tư quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện và thống nhất thể chế pháp luật trong nước về đầu tư ra nước ngoài:
  • Tiến hành rà soát, sửa đổi các quy định còn mâu thuẫn giữa Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và Luật Thương mại trước năm 2015, thống nhất các khái niệm về điều kiện kinh doanh quốc tế và hoạt động thương mại xuyên biên giới.
  • Ban hành nghị định mới thay thế Nghị định 78/2006/NĐ-CP nhằm phân cấp mạnh mẽ quyền phê duyệt dự án quy mô dưới 5 triệu USD cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, rút ngắn 50% thời gian xử lý thủ tục hành chính cấp Giấy chứng nhận đầu tư từ 45 ngày xuống dưới 20 ngày làm việc. Chủ thể thực hiện: Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ ban hành.
  1. Thiết lập cơ chế giám sát tài chính và quản lý rủi ro nguồn vốn nhà nước:
  • Xây dựng quy chế quản lý tài chính và giám sát chuyên biệt đối với các tập đoàn kinh tế nhà nước khi triển khai dự án đầu tư ra nước ngoài trong giai đoạn 2014 - 2016.
  • Áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp không tuân thủ nghĩa vụ báo cáo định kỳ, hướng tới mục tiêu 100% dự án chuyển vốn ra nước ngoài được kiểm toán dòng tiền và theo dõi tiến độ giải ngân hàng năm. Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính phối hợp cùng Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương.
  1. Mở rộng và nâng cấp mạng lưới điều ước quốc tế song phương và đa phương:
  • Chủ động rà soát, đàm phán sửa đổi và ký kết mới các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (BIT), Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTA) với hơn 60 quốc gia đối tác trong giai đoạn 2014 - 2020.
  • Bổ sung các điều khoản cụ thể về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước (ISDS), bảo đảm nguyên tắc không phân biệt đối xử và bồi thường thỏa đáng khi có rủi ro chính trị. Chủ thể thực hiện: Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công Thương.
  1. Xây dựng tổ chức liên kết hỗ trợ pháp lý và xúc tiến thương mại quốc tế:
  • Thành lập Văn phòng hỗ trợ pháp lý tiền trạm tại 4 thị trường trọng điểm gồm Lào, Campuchia, Nga và Myanmar trong thời hạn 24 tháng.
  • Cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật bản địa miễn phí, hỗ trợ xử lý thủ tục đất đai, cấp phép lao động cho 100% doanh nghiệp vừa và nhỏ, hạn chế tình trạng cạnh tranh nội bộ phá giá thị trường. Chủ thể thực hiện: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với các Đại sứ quán và Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách:
  • Cán bộ thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương.
  • Lợi ích: Cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực tiễn để xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, chuẩn bị nội dung đàm phán các hiệp định song phương về bảo hộ đầu tư và phòng ngừa rủi ro tranh chấp quốc tế.
  1. Ban lãnh đạo và phòng pháp chế các tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh quốc tế:
  • Lãnh đạo các tập đoàn lớn trong lĩnh vực dầu khí, khoáng sản, cao su, viễn thông, xây dựng và các doanh nghiệp tư nhân đang chuẩn bị mở rộng kinh doanh ra nước ngoài.
  • Lợi ích: Nắm vững quy trình xác lập tư cách pháp nhân, nhận diện rủi ro pháp lý tại các thị trường bản địa, tối ưu hóa cơ cấu vốn và bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi xảy ra tranh chấp hợp đồng.
  1. Các văn phòng luật sư, chuyên gia tư vấn đầu tư và tổ chức xúc tiến thương mại:
  • Luật sư tư vấn đầu tư quốc tế, chuyên gia giải quyết tranh chấp thương mại, đại diện các hiệp hội ngành nghề và cán bộ thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
  • Lợi ích: Sử dụng làm tài liệu tham chiếu chuyên sâu để tư vấn cấu trúc giao dịch, soạn thảo hợp đồng liên doanh, thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Lào, Campuchia, Nga và Myanmar.
  1. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học:
  • Giảng viên và sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Quốc tế, Luật Thương mại Quốc tế, Kinh tế Quốc tế và Quan hệ Quốc tế.
  • Lợi ích: Cung cấp khung phân tích học thuật mẫu mực, hệ thống dữ liệu thực chứng tin cậy và phương pháp tiếp cận đa chiều về địa vị pháp lý của pháp nhân xuyên quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của những nguồn luật nào?

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh đồng thời của ba nguồn luật: pháp luật Việt Nam (Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư), pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư và các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương mà các bên cùng tham gia. Mọi quyền hạn, nghĩa vụ về đăng ký kinh doanh, lao động và nghĩa vụ tài chính đều phải tuân thủ sự kết hợp của ba hệ thống này.

Tại sao tỷ suất lợi nhuận chuyển về nước của các dự án đầu tư ra nước ngoài trong giai đoạn nghiên cứu chỉ đạt 1,33% đến 2,02%?

Nguyên nhân chủ yếu do 71% tổng lượng vốn chuyển ra tập trung vào các lĩnh vực dài hạn như khai khoáng, dầu khí, cao su, thủy điện cần từ 6 đến 8 năm xây dựng cơ bản trước khi tạo doanh thu. Bên cạnh đó, các rủi ro chính trị, biến động pháp lý bản địa và năng lực quản lý dự án quốc tế còn hạn chế cũng làm chậm quá trình thu hồi vốn.

Doanh nghiệp Việt Nam thường gặp những rào cản pháp lý lớn nhất nào tại thị trường Lào và Campuchia?

Các rào cản lớn nhất gồm sự thiếu nhất quán giữa chính sách ưu đãi của chính quyền trung ương với việc áp dụng thuế phí tại địa phương, thủ tục hành chính đất đai kéo dài và sự khác biệt văn hóa. Ngoài ra, việc hạn chế nguồn lao động có tay nghề tại chỗ khiến doanh nghiệp phải tăng chi phí đưa lao động từ Việt Nam sang.

Doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng đầu tư ra nước ngoài ra sao và những rủi ro pháp lý chính là gì?

Nhóm 5 tập đoàn kinh tế nhà nước lớn chiếm tới 61% tổng vốn chuyển ra nước ngoài của cả nước với quy mô khoảng 1,78 tỷ USD. Rủi ro chính nằm ở sự thiếu vắng hành lang pháp lý chuyên biệt về quản lý vốn công ở nước ngoài, cơ chế giám sát tài chính chưa minh bạch và nguy cơ thất thoát vốn tại các dự án thăm dò bị dừng hoạt động.

Doanh nghiệp Việt Nam có thể đăng ký những hình thức hiện diện thương mại nào khi kinh doanh ở nước ngoài?

Doanh nghiệp có thể thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần theo luật pháp nước sở tại với tư cách pháp nhân độc lập, hoặc mở các đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân riêng biệt gồm chi nhánh và văn phòng đại diện theo Điều 37 Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật sở tại tương ứng.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về địa vị pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh ở nước ngoài, phân định rõ các yếu tố cấu thành từ ba nguồn luật điều chỉnh.
  • Phân tích thực chứng toàn diện trên 712 dự án với tổng vốn đăng ký 12,4 tỷ USD, chỉ rõ tỷ lệ giải ngân thực tế 20% và tỷ suất sinh lời khiêm tốn 1,33% giai đoạn 1989 - 2011.
  • Nhận diện các điểm nghẽn thể chế nghiêm trọng, đặc biệt là nguy cơ rủi ro tài chính của khối doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ 61% tổng lượng vốn chuyển ra nước ngoài.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về hoàn thiện luật nội dung, tăng cường giám sát tài chính vốn nhà nước, nâng cấp hệ thống điều ước quốc tế và lập văn phòng hỗ trợ pháp lý tiền trạm.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho lộ trình hoàn thiện thể chế đầu tư quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2014 - 2020, tạo tiền đề nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu cho doanh nghiệp Việt.

Các doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần chủ động áp dụng ngay các khuyến nghị thể chế và giải pháp phòng ngừa rủi ro pháp lý nêu trên để bảo vệ an toàn dòng vốn và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại của đất nước.