Đề xuất phương án phát triển sản xuất lâm nông nghiệp cho xã pom lót huyện điện biên tỉnh điện biên giai đoạn 2018 2025

Đề tài nghiên cứu Phương án phát triển sản xuất lâm nông nghiệp xã Pom Lót 2018-2025 góp phần nâng cao kiến thức chuyên ngành và ứng dụng

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phương án phát triển lâm nông nghiệp xã Pom Lót

Xã Pom Lót, thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, giữ một vị trí chiến lược quan trọng, nằm ở phía Nam lòng chảo Điện Biên và gần kề trung tâm thành phố Điện Biên Phủ. Với vị trí này, xã có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lâm - nông nghiệp. Đề xuất phương án phát triển sản xuất lâm nông nghiệp cho xã Pom Lót giai đoạn 2018-2025 được xây dựng nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng sẵn có, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững. Phương án này không chỉ tập trung vào việc nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi mà còn hướng đến việc tổ chức lại sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật và bảo vệ môi trường sinh thái. Mục tiêu tổng quát là xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa, góp phần thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế xã hội xã Pom Lót, đồng thời cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Việc quy hoạch lại sử dụng đất đai, phát triển các mô hình nông lâm kết hợp hiệu quả và tăng cường liên kết sản xuất được xem là những trụ cột chính của phương án. Dựa trên phân tích sâu sắc về điều kiện tự nhiên xã Pom Lót và thực trạng kinh tế, đề án đưa ra một lộ trình cụ thể, có tính khả thi cao, hứa hẹn tạo ra bước đột phá cho ngành nông lâm nghiệp của xã, góp phần vào sự phát triển chung của toàn huyện Điện Biên.

1.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên xã Pom Lót ảnh hưởng kinh tế

Xã Pom Lót có tổng diện tích tự nhiên là 4.228,50 ha, địa hình đa dạng bao gồm cả đồng bằng và đồi núi, thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Khí hậu của xã mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa vùng núi, chia thành hai mùa rõ rệt, thuận lợi cho việc phát triển đa dạng các loại cây trồng. Tài nguyên đất phong phú với các nhóm chính như đất đỏ vàng, đất mùn vàng nhỏ trên núi và đất phù sa, phù hợp cho cả cây lương thực, cây công nghiệp và cây lâm nghiệp. Hệ thống sông ngòi với sông Nậm Rốm và Nậm Núa cung cấp nguồn nước tưới tiêu quan trọng, tuy nhiên cũng đặt ra thách thức về ngập úng vào mùa mưa. Đặc biệt, với 3.521,54 ha đất lâm nghiệp, chiếm 83,28% diện tích tự nhiên, Pom Lót có tiềm năng lớn để phát triển trồng rừng sản xuất và khai thác lâm sản ngoài gỗ. Những điều kiện tự nhiên xã Pom Lót này là nền tảng vững chắc để xây dựng các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững Điện Biên, nhưng cũng đòi hỏi các biện pháp canh tác hợp lý để chống xói mòn và bảo vệ tài nguyên đất.

1.2. Phân tích thực trạng kinh tế xã hội tại địa phương

Theo thống kê năm 2017, xã Pom Lót có 1.432 hộ với 5.603 nhân khẩu, trong đó lực lượng lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp (1.747 lao động, chiếm 78%). Mặc dù có những nỗ lực trong công tác xóa đói giảm nghèo, thu nhập bình quân đầu người vẫn còn ở mức thấp, khoảng 1,5 triệu đồng/người/tháng. Điều này cho thấy đời sống người dân còn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, manh mún. Thực trạng sản xuất nông nghiệp huyện Điện Biên tại xã cho thấy cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi đã được đầu tư nhưng chưa đồng bộ. Trình độ dân trí và việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, dẫn đến năng suất chưa cao. Đây là một trong những thách thức lớn trong việc nâng cao thu nhập cho người dân tộc thiểu số và thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại Pom Lót. Do đó, việc đề xuất một phương án phát triển toàn diện là vô cùng cấp thiết.

II. Thách thức trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Điện Biên

Mặc dù sở hữu tiềm năng lớn, việc phát triển sản xuất lâm nông nghiệp tại xã Pom Lót đang đối mặt với nhiều thách thức đáng kể, phản ánh bức tranh chung của quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Điện Biên. Các phương thức canh tác truyền thống, lạc hậu vẫn còn phổ biến, dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp và chưa bền vững. Tình trạng khai thác tài nguyên rừng thiếu kiểm soát, đốt nương làm rẫy không chỉ làm suy giảm diện tích và chất lượng rừng mà còn gây ra xói mòn, thoái hóa đất nghiêm trọng. Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất còn hạn chế, đa số các hộ gia đình thiếu khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để mở rộng quy mô và áp dụng công nghệ mới. Thêm vào đó, năng lực quản lý của cán bộ địa phương và công tác khuyến nông, khuyến lâm chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển. Việc liên kết giữa sản xuất và thị trường tiêu thụ còn yếu, khiến sản phẩm nông lâm nghiệp của người dân thường xuyên đối mặt với tình trạng "được mùa mất giá". Những khó khăn này đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ, từ quy hoạch đất đai đến chính sách hỗ trợ và tổ chức sản xuất, nhằm tạo ra sự thay đổi căn bản cho nền kinh tế địa phương.

2.1. Hiện trạng sử dụng đất đai và tài nguyên rừng còn bất cập

Theo số liệu năm 2017, trong tổng số 4.228,50 ha đất tự nhiên, đất nông nghiệp chiếm tới 94,89%, cho thấy vai trò chủ đạo của ngành này. Tuy nhiên, việc sử dụng đất còn nhiều bất cập. Vẫn còn 36,60 ha đất đồi núi chưa được đưa vào sử dụng, gây lãng phí tài nguyên. Một số diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả do thường xuyên bị ngập úng hoặc khô hạn. Đối với tài nguyên rừng, dù có diện tích lớn (3.521,54 ha), phần lớn là rừng nghèo, trữ lượng lâm sản thấp. Rừng sản xuất tự nhiên đang trong quá trình phục hồi, còn rừng trồng sản xuất có quy mô nhỏ (20 ha). Công tác quản lý, bảo vệ rừng còn lỏng lẻo, tình trạng khai thác gỗ trái phép vẫn xảy ra. Những hạn chế trong quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Pom Lót và quản lý tài nguyên là rào cản lớn cho sự phát triển bền vững.

2.2. Khó khăn trong việc nâng cao thu nhập cho người dân tộc thiểu số

Việc nâng cao thu nhập cho người dân tộc thiểu số là mục tiêu trọng tâm nhưng cũng là thách thức lớn nhất. Trình độ sản xuất của người dân còn thấp, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền đời, thiếu kiến thức về kỹ thuật canh tác tiên tiến và quản lý kinh tế hộ. Sự phụ thuộc quá lớn vào một vài loại cây trồng truyền thống như lúa, ngô khiến thu nhập bấp bênh và dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh. Việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ nông dân Điện Biên, đặc biệt là về vốn và giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao, còn gặp nhiều khó khăn. Thiếu vốn đầu tư khiến các hộ gia đình không thể mở rộng sản xuất hay xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp hiệu quả. Đây là những nút thắt cần được tháo gỡ để cải thiện sinh kế và giảm nghèo một cách bền vững tại địa phương.

III. Giải pháp quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Pom Lót tối ưu

Để giải quyết các thách thức và khai thác tối đa tiềm năng, giải pháp trọng tâm là thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Pom Lót một cách khoa học và hợp lý. Phương án quy hoạch giai đoạn 2018-2025 tập trung vào việc bố trí lại cơ cấu sử dụng đất, đảm bảo mỗi loại đất được sử dụng đúng mục đích và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Theo đó, toàn bộ 36,60 ha đất chưa sử dụng sẽ được đưa vào khai thác cho các mục đích trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản và phát triển hạ tầng. Quy hoạch không chỉ là việc phân chia lại diện tích mà còn gắn liền với định hướng phát triển sản xuất cụ thể cho từng vùng. Các vùng đất bằng phẳng, màu mỡ sẽ được ưu tiên cho thâm canh lúa năng suất cao. Vùng đất dốc sẽ được quy hoạch cho các mô hình nông lâm kết hợp hiệu quả, vừa tạo ra thu nhập, vừa có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn. Mục tiêu của quy hoạch là hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường, và là nền tảng cho việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Điện Biên ngay từ cấp cơ sở.

3.1. Phân bổ quỹ đất cho trồng trọt và chăn nuôi gia súc

Trong quy hoạch, diện tích đất trồng lúa sẽ được điều chỉnh giảm nhẹ (giảm 5,5 ha) ở những khu vực kém hiệu quả để chuyển sang phát triển hạ tầng, đồng thời áp dụng các giống mới để tăng năng suất trên diện tích còn lại. Diện tích đất trồng cây lâu năm sẽ được mở rộng thêm 3,4 ha, ưu tiên các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như bưởi, xoài, nhãn. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi được thực hiện một cách có kế hoạch, dựa trên lợi thế so sánh của từng tiểu vùng. Bên cạnh đó, quy hoạch cũng chú trọng phát triển chăn nuôi gia súc theo chuỗi giá trị bằng cách dành quỹ đất phù hợp để trồng cỏ, đảm bảo nguồn thức ăn ổn định. Các khu vực chăn nuôi tập trung sẽ được hình thành xa khu dân cư để đảm bảo vệ sinh môi trường.

3.2. Quy hoạch phát triển trồng rừng sản xuất và bảo vệ rừng

Lĩnh vực lâm nghiệp được xác định là một mũi nhọn kinh tế. Quy hoạch đề xuất tăng diện tích đất lâm nghiệp thêm 20 ha, trong đó tập trung vào trồng rừng sản xuất. Diện tích rừng trồng sản xuất sẽ tăng từ 20 ha lên 40 ha, chủ yếu trồng các loài cây như Keo lai và Macca, là những cây có chu kỳ khai thác ngắn và hiệu quả kinh tế cao. Đối với 2.233,88 ha rừng phòng hộ và diện tích rừng tự nhiên sản xuất, phương án nhấn mạnh vào công tác bảo vệ nghiêm ngặt, kết hợp khoanh nuôi tái sinh tự nhiên để nâng cao chất lượng rừng. Việc này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường, giữ nguồn nước và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

IV. Top 3 mô hình nông lâm kết hợp hiệu quả được đề xuất

Để hiện thực hóa quy hoạch sử dụng đất, việc áp dụng các mô hình sản xuất tiên tiến là yếu tố then chốt. Đề án tập trung vào việc nhân rộng các mô hình nông lâm kết hợp hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế của Pom Lót. Các mô hình này được thiết kế để đa dạng hóa nguồn thu nhập, giảm rủi ro trong sản xuất và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai. Thay vì chỉ độc canh một loại cây hay một loại vật nuôi, việc kết hợp đa dạng các hoạt động sản xuất trên cùng một diện tích giúp tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp cân bằng và hiệu quả hơn. Các mô hình được đề xuất bao gồm việc chuyển đổi từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, phát triển các trang trại quy mô vừa và nhỏ, và khai thác bền vững các giá trị từ rừng. Những mô hình này không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho người dân tộc thiểu số mà còn tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường, là cốt lõi của giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững Điện Biên.

4.1. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng hàng hóa

Mô hình này tập trung vào việc thay thế các giống cây trồng, vật nuôi năng suất thấp bằng các giống mới có chất lượng và giá trị kinh tế cao hơn. Cụ thể, đề án khuyến khích nông dân chuyển đổi một phần diện tích đất lúa một vụ hoặc đất nương rẫy sang trồng các loại cây ăn quả đặc sản, cây công nghiệp ngắn ngày. Trong chăn nuôi, mô hình tập trung vào việc phát triển đàn gia súc lớn (trâu, bò) và gia cầm theo hướng an toàn sinh học. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi này đòi hỏi sự đầu tư về giống, kỹ thuật và liên kết với doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra ổn định, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung.

4.2. Phát triển kinh tế trang trại và chăn nuôi theo chuỗi giá trị

Mô hình phát triển kinh tế trang trại được khuyến khích cho các hộ có đủ điều kiện về đất đai và vốn. Các trang trại này sẽ kết hợp trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp (mô hình VAC, VACR). Đây là hướng đi hiệu quả để tối ưu hóa việc sử dụng đất và tạo ra chu trình sản xuất khép kín, giảm chi phí và bảo vệ môi trường. Đặc biệt, mô hình chăn nuôi gia súc theo chuỗi giá trị sẽ được ưu tiên, trong đó các hộ chăn nuôi liên kết với nhau và với doanh nghiệp từ khâu cung cấp con giống, thức ăn, thú y đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Điều này giúp nâng cao giá trị sản phẩm và đảm bảo lợi nhuận bền vững cho người chăn nuôi.

4.3. Khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ và trồng rừng mới

Đối với diện tích đất lâm nghiệp, mô hình phát triển không chỉ dừng lại ở việc trồng cây lấy gỗ. Đề án khuyến khích người dân bảo vệ rừng tự nhiên và phát triển kinh tế dưới tán rừng thông qua việc khai thác bền vững các loại lâm sản ngoài gỗ như măng, dược liệu, nấm... Đây là nguồn thu nhập quan trọng, giúp người dân gắn bó hơn với việc giữ rừng. Song song đó, việc đẩy mạnh trồng rừng sản xuất với các loài cây sinh trưởng nhanh như Keo lai sẽ cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ, tạo việc làm và thu nhập ổn định trong dài hạn. Mô hình này là một ví dụ điển hình cho sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

V. Kế hoạch thực hiện phát triển nông nghiệp bền vững Điện Biên

Để phương án phát triển đi vào thực tiễn và đạt hiệu quả, một kế hoạch thực hiện chi tiết với các giải pháp đồng bộ là điều kiện tiên quyết. Kế hoạch này tập trung vào việc tạo ra một môi trường thuận lợi, huy động mọi nguồn lực và tăng cường năng lực cho người dân. Việc triển khai không chỉ là trách nhiệm của chính quyền địa phương mà cần có sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Các giải pháp được đề xuất bao trùm nhiều lĩnh vực, từ chính sách, vốn, khoa học kỹ thuật đến thị trường và tổ chức quản lý. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và biến động thị trường. Quá trình này sẽ được lồng ghép chặt chẽ với các chương trình mục tiêu quốc gia khác, đặc biệt là chương trình xây dựng nông thôn mới tại Pom Lót, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của xã.

5.1. Vai trò của chính sách hỗ trợ nông dân Điện Biên trong phát triển

Chính sách là đòn bẩy quan trọng nhất. Cần triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ nông dân Điện Biên về đất đai, tín dụng, khuyến nông và bảo hiểm nông nghiệp. Cụ thể, cần tạo điều kiện cho các hộ gia đình được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để đầu tư sản xuất, mua sắm máy móc. Chính quyền cần hỗ trợ 50% chi phí giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao trong giai đoạn đầu chuyển đổi. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân yên tâm đầu tư lâu dài. Các chính sách này sẽ tạo động lực và giảm bớt rủi ro cho người nông dân khi áp dụng các mô hình sản xuất mới.

5.2. Giải pháp về vốn khoa học kỹ thuật và thị trường tiêu thụ

Về vốn, cần đa dạng hóa các kênh huy động, bao gồm ngân sách nhà nước, vốn tín dụng, vốn từ doanh nghiệp và vốn tự có của người dân. Về khoa học kỹ thuật, cần tăng cường các lớp tập huấn, chuyển giao công nghệ, xây dựng các mô hình trình diễn để người dân học hỏi kinh nghiệm. Đội ngũ cán bộ khuyến nông cần được đào tạo lại, nâng cao trình độ để hướng dẫn kỹ thuật một cách hiệu quả. Về thị trường, cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của xã, và tạo điều kiện để doanh nghiệp ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm, hình thành chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ bền vững.

5.3. Gắn kết với chương trình xây dựng nông thôn mới tại Pom Lót

Việc thực hiện phương án phát triển sản xuất lâm nông nghiệp phải được xem là nội dung cốt lõi của chương trình xây dựng nông thôn mới tại Pom Lót. Sự phát triển sản xuất sẽ trực tiếp góp phần hoàn thành các tiêu chí quan trọng như thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động và hình thức tổ chức sản xuất. Nguồn vốn từ chương trình Nông thôn mới cần được ưu tiên đầu tư cho hạ tầng phục vụ sản xuất như đường giao thông nội đồng, kênh mương thủy lợi. Ngược lại, khi kinh tế phát triển, người dân sẽ có điều kiện đóng góp nhiều hơn vào việc xây dựng các công trình công cộng, cải thiện môi trường sống, tạo nên một vòng tuần hoàn phát triển tích cực và bền vững.

VI. Hiệu quả kinh tế từ phương án phát triển lâm nông nghiệp

Việc triển khai thành công phương án phát triển sản xuất lâm nông nghiệp giai đoạn 2018-2025 được kỳ vọng sẽ mang lại những hiệu quả to lớn và toàn diện cho xã Pom Lót. Về mặt kinh tế, phương án sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành hàng hóa có giá trị cao, giảm dần sự phụ thuộc vào nông nghiệp tự cung tự cấp. Thu nhập bình quân đầu người dự kiến sẽ tăng lên đáng kể, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo một cách bền vững. Về mặt xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân sẽ được cải thiện rõ rệt. Việc tạo ra nhiều việc làm tại chỗ sẽ giúp giảm tình trạng di cư lao động, ổn định cơ cấu dân số. Về môi trường, việc quy hoạch và áp dụng các biện pháp canh tác bền vững sẽ giúp bảo vệ tài nguyên đất, nước và tăng độ che phủ rừng. Đây là nền tảng vững chắc để Pom Lót không chỉ phát triển kinh tế mà còn xây dựng một không gian sống xanh, sạch, đẹp, hài hòa với thiên nhiên.

6.1. Dự báo tác động đến kinh tế xã hội và môi trường

Dự kiến, tổng giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp của xã sẽ tăng trưởng ổn định. Các mô hình phát triển kinh tế trang trạichăn nuôi theo chuỗi giá trị sẽ trở thành động lực tăng trưởng chính. Sự thành công của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội xã Pom Lót sẽ giúp địa phương hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. An ninh lương thực được đảm bảo vững chắc, đồng thời hình thành các sản phẩm hàng hóa chủ lực có thương hiệu. Về môi trường, việc tăng diện tích rừng trồng và bảo vệ tốt rừng phòng hộ sẽ cải thiện khả năng điều tiết nguồn nước, giảm thiểu thiên tai như lũ lụt, hạn hán. Chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao thông qua việc cải thiện thu nhập và môi trường sống.

6.2. Tầm nhìn phát triển sản xuất lâm nông nghiệp đến năm 2025

Đến năm 2025, Pom Lót được định hướng trở thành một xã có nền sản xuất lâm nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao. Nền nông nghiệp của xã sẽ được cơ cấu lại một cách hợp lý, hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao. Các sản phẩm nông lâm nghiệp không chỉ phục vụ thị trường trong tỉnh mà còn có thể vươn ra các thị trường lớn hơn. Quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Điện Biên sẽ đạt được những kết quả cụ thể tại Pom Lót, biến xã trở thành một điển hình về phát triển kinh tế miền núi. Người nông dân sẽ thực sự trở thành chủ thể của quá trình sản xuất, có thu nhập cao và ổn định từ chính mảnh đất của mình.

04/10/2025
Đề xuất phương án phát triển sản xuất lâm nông nghiệp cho xã pom lót huyện điện biên tỉnh điện biên giai đoạn 2018 2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Quá trình phát triển và đi lên của đất nƣớc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa có sự đóng góp không nhỏ của phát triển kinh tế xã hội các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng nông thôn ở miền núi hiện nay. Nói đến nông thôn miền núi là nói đến sản xuất lâm - nông nghiệp, sự phát triển kinh tế xã hội của các vùng này nhìn chung thấp và là chậm hơn các vùng khác. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn miền núi còn thiếu đồng bộ, trình độ kỹ thuật sản xuất còn thô sơ, lạc hậu, phƣơng thức quản lý lỏng lẻo, công tác quy hoạch lâm - nông nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, thiếu chi tiết, cụ thể đến tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy thoái cạn kiệt, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, chất lƣợng rừng tăng lên không đáng kể thậm chí còn có xu hƣớng giảm dần. Các sản phẩm thu đƣợc từ rừng không đủ đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống của ngƣời dân, đặc biệt cuộc sống của ngƣời dân lại dựa vào sản xuất lâm nông nghiệp, đời sống vật chất tinh thần của ngƣời dân không đƣợc cải thiện.

Quy hoạch sử dụng đất nói chung và quy hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp nói riêng giúp cho việc bố trí, sắp xếp hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, tạo điều kiện sử dụng đất ổn định, lâu dài, bảo vệ đƣợc nguồn tài nguyên đất đai và bảo vệ môi trƣờng sinh thái, có nhƣ vậy thì sản xuất lâm- nông nghiêp của mỗi địa phƣơng mới phát triển thật sự bền vững. Pom Lót là một xã miền núi nằm giáp ranh giữa cánh đồng Mƣờng Thanh và vùng núi cao. Mặc dù có vị trí gần với trung tâm Thành phố Điện Biên, nhƣng đời sống kinh tế của ngƣời dân chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp và phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay tại xã việc khai thác và sử dụng đất còn chƣa đúng mục đích, đất chƣa sử dụng còn nhiều và chƣa hợp lý dẫn đến đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, đất đai bị thoái hóa và diện tích canh tác bị thu hẹp.

Đặc biệt, đa số ngƣời dân tại địa phƣơng tham gia sản xuất lâm - nông nghiệp là chính nên xảy ra nhiều hiện tƣợng phá rừng, đốt nƣơng làm rẫy làm gia tăng diện tích 1 đất trống đồi núi trọc ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của xã. Bên cạnh đó, do trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, thấp k m và thiếu vốn cho đầu tƣ vào sản xuất nên hiệu quả sản xuất thấp không đáp ứng đƣợc nhu cầu của cuộc sống. Trong khi tiềm năng về phát triển sản xuất lâm - nông nghiệp của xã là rất lớn nhƣng chƣa đƣợc khai thác, đặc biệt là phát triển lâm nghiệp và các mô hình nông lâm kết hợp, mô hình kinh tế hộ gia đình. Xuất phát từ tính cấp thiết của thực tiễn trên, đƣợc sự nhất trí của khoa Lâm Học, trƣờng Đại Học Lâm Nghiệp, tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Đề xuất phương án phát triển sản xuất lâm - nông nghiệp cho xã Pom Lót - huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên giai đoạn 2018 – 2025”.

2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, vai trò và tầm quan trọng của sản xuất lâm nông - nghiệp đối với đời sống kinh tế, xã hội và môi trƣờng ngày càng đƣợc khẳng định. Nhằm phát huy tối đa hiệu quả của sản xuất lâm nông nghiệp, đã có rất nhiều nghiên cứu đƣợc thực hiện trên khắp các châu lục, tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ… đặc biệt là những nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất, về quy hoạch phát triển lâm - nông nghiệp. Những nghiên cứu này tuy đã đƣợc thực hiện trên nhiều góc độ và tầm nhìn khác nhau song đến thời điểm này thì tất cả các công trình nghiên cứu đều hƣớng đến mục đích sử dụng đất đai, phát triển sản xuất lâm - nông nghiệp một cách hiệu quả và bền vững, ổn định nhất. Trên thế giới Trên thế giới, quy hoạch phát triển lâm - nông nghiệp đã đƣợc đề cập rất sớm ngay từ thế kỷ XVII, quy hoạch lâm nông nghiệp đã đƣợc xác nhận nhƣ là một chuyên ngành bắt đầu từ các quy hoạch vùng, vào thời gian này theo Olschowy quy hoạch quản lý rừng và lâm sinh ở châu Âu đƣợc xem nhƣ là một lĩnh vực phát triển ở mức cao trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất.

Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ XIX, phƣơng thức kinh doanh rừng chồi đƣợc thay thế bằng phƣơng thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài, phƣơng thức u t u u nhƣờng chỗ cho phƣơng thức u của Harting. Harting đã chia chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lƣợng chặt hàng năm. Đến năm 1816 xuất hiện phƣơng pháp phân kỳ lợi dụng của H. Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và c ng lấy đó để khống chế lƣợng chặt hàng năm.

Sau đó phƣơng pháp u t u ra đời. Quan điểm phƣơng pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch đƣợc liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ 3 XIX xuất hiện phƣơng pháp t của Judeich, phƣơng pháp này khác với phƣơng pháp u t u về căn bản. Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch đƣợc nhiều tiền nhất s đƣợc đƣa vào diện khai thác.

Hai phƣơng pháp u t u và t chính là tiền đề của hai phƣơng pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau. Tại Mỹ, bang Wiscosin đã tạo ra đạo luật sử dụng đất đai vào năm 1929 và tiến hành xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí. Từ năm 1967 hội đồng nông nghiệp châu Âu đã phối hợp với tổ chức F O, tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất. Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các vùng sản xuất nhƣ nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi.

c ng nhƣ quy hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai. Tại Đức, Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu á ệm v sử dụng ất á u , đây đƣợc coi là lý thuyết sinh thái về quy hoạch sử dụng đất dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa dạng của hệ sinh thái c ng nhƣ sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh. Từ năm 1976 Hội đồng nông nghiệp châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất. Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các ngành sản xuất nhƣ nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi,…c ng nhƣ quy hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai.

Trên thế giới, mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh, chính là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất đã đƣợc phát quang để canh tác trong một thời gian, ngắn hơn thời gian bỏ hóa (Conklin, 1957)… Du canh đƣợc xem là 4 phƣơng thức canh tác cổ xƣa nhất, nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá mới, khi con ngƣời đã tích l y đƣợc những kiến thức ban đầu về tự nhiên. Mặc dù có nhiều hạn chế về môi trƣờng, song phƣơng thức này vẫn đƣợc sử dụng khá phổ biến ở các vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, về chiến lƣợc phát triển kinh tế bền vững, du canh đƣợc xem nhƣ là một sự lãng phí về sức ngƣời, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân gây nên xói mòn và thoái hóa đất đai (Grinnell, 1977). Trên cơ sở giải quyết những nhƣợc điểm của phƣơng thức du canh đã có một số mô hình, hệ thống canh tác mới ra đời.

Taungya đƣợc coi nhƣ là một phƣơng thức canh tác có thể chấp nhận đƣợc cả về mặt hiệu quả kinh tế và môi trƣờng sinh thái bằng sự kết hợp đồng thời cả hai loại cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp. Dƣới sức ép ngày càng lớn của việc gia tăng dân số, để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời về kinh tế - môi trƣờng sinh thái… thì Taungya tỏ ra yếu đuối – không thích hợp. Để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao về lƣơng thực, con ngƣời tìm cách giải quyết theo một trong hai hƣớng đó là: Tăng năng suất cây trồng bằng việc tận dụng tối đa tiềm năng của các loại đất, thâm canh tăng mùa vụ và mở rộng diện tích canh tác. Để làm đƣợc điều đó công tác điều tra, khảo sát, phân loại và đánh giá đất đai để tìm ra giải pháp sử dụng đất có hiệu quả nhất trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất hợp lý, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và đặc biệt là theo hƣớng nghiên cứu đánh giá tổng hợp tiềm năng của đất đai cho các mục tiêu sử dụng bền vững đã trở thành một yêu cầu bức thiết.

Một trong những nghiên cứu thành công của quá trình nghiên cứu đó là việc tìm ra hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc viết tắt là SLAT (Slopping Agricultural Land Technology) nhằm sử dụng đất dốc bền vững và đã đƣợc Trung tâm phát triển Nông thôn Bapsit Midanao Philippines tổng kết và phát triển từ những năm 1970 đến nay. Năm 1985, tại hội nghị PRA ở Thái Lan thì thuật ngữ sự tham gia/ gười tham gia đƣợc sử dụng. 5 Giai đoạn 1990 – 1991 là giai đoạn bùng nổ PRA tại Ấn Độ với các chƣơng trình, dự án phát triển nông thôn và phát triển lâm nghiệp xã hội. C ng trong thời gian đó PR c ng xuất hiện ở châu Á, châu Phi.

Và cho đến nay đã có hơn 30 nƣớc đã và đang áp dụng PR vào các chƣơng trình xã hội nhƣ xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thônđã cho thấy ƣu thế của phƣơng pháp này.… Nhìn chung, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ngay từ khi mới ra đời cho đến nay đã có nhiều biến đổi r rệt, xây dựng phƣơng pháp ngày càng hoàn chỉnh hơn, phù hợp dần với thực tiễn sản xuất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ