Tổng quan nghiên cứu

Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus) là một trong những loài linh trưởng nguy cấp nhất hành tinh, với quần thể duy nhất còn tồn tại trên thế giới chỉ khoảng 110 cá thể theo kết quả tổng điều tra liên biên giới năm 2007. Trong đó, dải rừng núi đá vôi tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng là nơi lưu giữ sinh cảnh quan trọng nhất với khoảng 85 đến 90 cá thể. Nhằm bảo vệ loài linh trưởng đặc hữu này, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ban hành Quyết định số 2536/QĐ-UBND ngày 15 tháng 11 năm 2006 thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít với diện tích vùng lõi 1.656,8 ha (trong đó sinh cảnh phân bố của vượn chiếm 881,59 ha) cùng vùng đệm rộng 5.723 ha bao quanh 3 xã Phong Nậm, Ngọc Khê và Ngọc Côn.

Tuy nhiên, sinh cảnh sống của loài vượn đang chịu sức ép nghiêm trọng từ sinh hoạt của 6.434 nhân khẩu thuộc 1.325 hộ gia đình tại 22 xóm vùng đệm. Tình trạng chăn thả gia súc, chặt cây lấy gỗ sửa nhà và khai thác củi đốt làm suy thoái tài nguyên rừng tự nhiên diễn ra thường xuyên. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ việc thiếu vắng các chương trình giáo dục bảo tồn mang tính chiến lược, dài hạn và có sự tham gia của người dân bản địa.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng hoạt động bảo tồn, phân tích nhận thức, thái độ của cộng đồng và các em học sinh, từ đó nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức qua mô hình SWOT. Mục tiêu cốt lõi là đề xuất khung chương trình giáo dục bảo tồn đồng bộ, thực tiễn, hướng tới mục tiêu giảm 50% đến 70% các vụ vi phạm sinh cảnh, nâng cao nhận thức bảo tồn đạt trên 85% cho cư dân địa phương và bảo đảm sự phục hồi bền vững cho quần thể Vượn Cao Vít.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết giáo dục môi trường được khởi xướng từ Hội nghị Stockholm năm 1972 và định nghĩa chuẩn hóa của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1970), khẳng định giáo dục môi trường là tiến trình xây dựng kỹ năng, thái độ và quy tắc ứng xử có trách nhiệm đối với tự nhiên. Đồng thời, nghiên cứu ứng dụng mô hình Bảo tồn dựa vào cộng đồng (Community-Based Conservation - CBC) và lý thuyết Lâm nghiệp xã hội, nhấn mạnh vai trò trung tâm của người dân địa phương trong việc quản lý và thụ hưởng tài nguyên bền vững.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 4 khái niệm then chốt:

  1. Giáo dục môi trường (GDMT): Tiến trình hình thành nhận thức và thúc đẩy các hành động bảo vệ chất lượng môi trường sống.
  2. Giáo dục bảo tồn (GDBT): Các hoạt động GDMT có sự tham gia chủ động của cộng đồng địa phương nhằm thay đổi trực tiếp hành vi khai thác, phục vụ mục tiêu bảo tồn loài nguy cấp.
  3. Cộng đồng địa phương: Cư dân thuộc các dân tộc Tày và Nùng sinh sống lâu đời tại vùng đệm, nắm giữ tri thức bản địa nhưng chịu nhiều áp lực sinh kế.
  4. Phân vùng bảo tồn: Phân định không gian quản lý giữa vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt 1.656,8 ha và vùng đệm 5.723 ha nhằm cân bằng sinh thái và phát triển kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Chi cục Kiểm lâm Cao Bằng, Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật hoang dã Quốc tế (FFI) cùng hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập thực địa từ năm 2010 đến năm 2012.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được thiết kế khoa học:

  • Khảo sát học sinh: Phát 59 phiếu điều tra (chiếm 15% tổng số học sinh khu vực), gồm 21 phiếu tại 2 trường tiểu học (An Hỷ, Ngọc Côn) và 38 phiếu tại 2 trường THCS (Phong Nậm, Ngọc Khê).
  • Khảo sát cộng đồng: Phát 341 phiếu điều tra (đạt tỷ lệ chọn mẫu 10% nhân khẩu toàn xã), phân bổ đồng đều tại xã Ngọc Khê và Ngọc Côn theo 3 nhóm chỉ tiêu: 114 phiếu theo nhóm tuổi, 119 phiếu theo phân tầng kinh tế giàu - nghèo và 108 phiếu theo giới tính.
  • Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA): Tiến hành phỏng vấn sâu và họp nhóm tập trung tại 11 xóm tiếp giáp trực tiếp vùng lõi (6 xóm tại xã Ngọc Khê và 5 xóm tại xã Ngọc Côn).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Dữ liệu định lượng được xử lý qua phần mềm Microsoft Excel để tính toán các chỉ số phần trăm, giá trị trung bình về nhận thức và mức độ sử dụng tài nguyên. Dữ liệu định tính được xử lý thông qua ma trận SWOT nhằm phân tích khách quan các yếu tố nội lực và ngoại cảnh, bảo đảm các chương trình giáo dục đề xuất có tính khả thi cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, các hoạt động giáo dục bảo tồn giai đoạn 2005-2009 do tổ chức FFI phối hợp thực hiện bước đầu tạo hiệu ứng tốt nhưng thiếu tính bền vững. Chương trình đã phát hành hơn 1.000 cuốn lịch mỗi năm trong giai đoạn 2006-2008, phân phát trên 2.000 tờ gấp mỗi năm trong giai đoạn 2005-2006 và thu hút gần 600 học sinh tham gia cuộc thi vẽ tranh năm 2009. Tuy nhiên, các hoạt động này mang tính thời điểm, chỉ duy trì trong khoảng 1 năm rồi dừng lại khi nguồn tài trợ kết thúc. Toàn vùng mới chỉ có 5 trong tổng số 32 thôn xóm (chiếm 15,6%) được lắp đặt bảng quy ước bảo vệ rừng.

Thứ hai, tồn tại khoảng cách lớn giữa nhận thức chung và kiến thức thực tế ở đối tượng học sinh tiểu học. Kết quả khảo sát tại 2 trường tiểu học An Hỷ và Ngọc Côn ghi nhận tỷ lệ học sinh có nhận thức tốt về tầm quan trọng của bảo tồn đạt trung bình 62,15% (trường Ngọc Côn đạt 64,5%, trường An Hỷ đạt 59,8%). Mặc dù vậy, tỷ lệ học sinh sở hữu kiến thức sinh thái chính xác về loài Vượn Cao Vít chỉ đạt 34,3% (trường Ngọc Côn đạt 43%, trường An Hỷ đạt 25,6%).

Thứ ba, áp lực sinh kế từ cộng đồng lên vùng lõi vẫn ở mức báo động. Mặc dù không có người dân cư trú trong vùng lõi, hiện vẫn có khoảng 21 ha đất thung lũng đá vôi trong phân khu bảo vệ bị người dân sử dụng để trồng ngô và chăn thả gia súc. 100% các hộ điều tra duy trì tập quán dùng củi làm chất đốt chính, gây ảnh hưởng trực tiếp đến 881,59 ha sinh cảnh sống của quần thể vượn.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch giữa nhận thức và hành động của cộng đồng bắt nguồn từ các rào cản kinh tế - xã hội. Đồng bào dân tộc Tày (chiếm 82,2% tại Ngọc Khê và 99,63% tại Ngọc Côn) cùng đồng bào Nùng có mức thu nhập thấp, sản xuất nông nghiệp thuần túy phụ thuộc tự nhiên và thời tiết vùng núi cao có mùa đông lạnh kéo dài trên 4 tháng với nhiệt độ trung bình từ 16 đến 20 độ C. Thiếu hụt nguồn chất đốt thay thế và kỹ thuật canh tác khiến người dân buộc phải dựa vào rừng để sinh tồn.

So sánh với các mô hình bảo tồn tại miền Trung Việt Nam hay các dự án lâm nghiệp cộng đồng tại Philippines, việc giáo dục đơn thuần qua tờ rơi hay biểu ngữ không thể tạo ra chuyển biến hành vi lâu dài nếu không gắn liền với việc cải thiện sinh kế. Khi trình bày dữ liệu qua biểu đồ cột so sánh nhận thức - kiến thức và bảng ma trận SWOT, bức tranh thực tế cho thấy điểm mạnh là sự đồng thuận cao của người dân, nhưng điểm yếu cốt tử là năng lực tự chủ tài chính của Ban quản lý khu bảo tồn. Cơ hội hợp tác quốc tế rất lớn nhưng thách thức từ việc suy thoái thảm thực vật núi đá vôi đòi hỏi phải có giải pháp giáo dục bảo tồn tiếp cận theo hướng đa chiều.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa và tích hợp giáo dục bảo tồn vào chương trình ngoại khóa trường học: Thiết kế bộ giáo trình trực quan sinh động về loài Vượn Cao Vít, tổ chức định kỳ 2 tiết học ngoại khóa mỗi tháng cho 100% học sinh tiểu học và THCS tại 3 xã vùng đệm; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh có kiến thức bảo tồn đạt chuẩn từ 34,3% lên trên 85% trong giai đoạn 2013-2015. Chủ thể thực hiện: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Trùng Khánh chủ trì phối hợp với Ban quản lý Khu bảo tồn.

  2. Mở rộng và thể chế hóa hương ước, bảng quy ước thôn xóm: Hoàn thành việc rà soát và lắp đặt bảng quy ước bảo vệ rừng tại 100% số thôn bản (mở rộng từ 5 xóm lên toàn bộ 32 xóm vùng đệm) trong vòng 12 tháng; đưa điều khoản cấm thả rông gia súc và cấm lấn chiếm 21 ha đất thung lũng vùng lõi vào tiêu chí thi đua gia đình văn hóa. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân các xã Ngọc Khê, Ngọc Côn, Phong Nậm.

  3. Triển khai các mô hình sinh kế xanh giảm thiểu nhu cầu củi đốt: Hỗ trợ xây dựng 150 đến 200 hầm khí sinh học Biogas và cung cấp 500 bếp đun cải tiến tiết kiệm năng lượng cho các hộ dân sống giáp ranh khu bảo tồn trong giai đoạn 2013-2016; hướng tới mục tiêu giảm 60% khối lượng gỗ củi khai thác từ rừng tự nhiên. Chủ thể thực hiện: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng phối hợp cùng tổ chức FFI và Hội Phụ nữ địa phương.

  4. Thành lập mạng lưới tuyên truyền viên bảo tồn nòng cốt tại cơ sở: Tuyển chọn và đào tạo kỹ năng truyền thông cho 30 đến 40 già làng, trưởng bản và người có uy tín trong cộng đồng người Tày, Nùng; duy trì tối thiểu 4 buổi họp tuyên truyền trực tiếp mỗi năm tại từng xóm; bảo đảm 95% hộ dân nắm vững các quy định của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp. Chủ thể thực hiện: Hạt Kiểm lâm Trùng Khánh phối hợp các tổ chức đoàn thể xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban quản lý các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên: Cung cấp phương pháp luận và bộ công cụ đánh giá PRA, phân tích SWOT để thiết kế các chương trình truyền thông môi trường có sự tham gia của cộng đồng bản địa sát với điều kiện thực tế.

  2. Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng kiểm lâm: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng phục vụ việc xây dựng chính sách giao đất giao rừng, phân vùng quản lý và ban hành quy chế phối hợp tuần tra bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp vùng biên giới.

  3. Các tổ chức phi chính phủ và bảo tồn quốc tế (FFI, IUCN, WWF): Tài liệu tham khảo hữu ích để xây dựng các dự án tài trợ phát triển sinh kế bền vững gắn liền với bảo tồn loài linh trưởng đặc hữu tại khu vực Đông Nam Á.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm nghiệp và Khoa học môi trường: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị về sự kết hợp liên ngành giữa sinh thái học bảo tồn và xã hội học lâm nghiệp trong giải quyết các xung đột tài nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Loài Vượn Cao Vít tại Trùng Khánh hiện có tình trạng bảo tồn như thế nào?
Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus) được xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ IUCN và thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP. Tổng số lượng loài chỉ còn khoảng 110 cá thể trên phạm vi toàn cầu, trong đó quần thể tại Cao Bằng giữ vai trò quyết định với khoảng 85 đến 90 cá thể.

Tại sao các chương trình truyền thông bảo tồn trước đây tại khu bảo tồn chưa duy trì được hiệu quả lâu dài?
Nghiên cứu cho thấy các hoạt động như phát hành 1.000 cuốn lịch hay 2.000 tờ rơi mỗi năm phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn kinh phí tài trợ của FFI. Khi dự án kết thúc, ngân sách địa phương không đủ duy trì, đồng thời các hoạt động chưa được thể chế hóa vào kế hoạch thường niên của chính quyền cấp xã.

Vì sao học sinh tiểu học được lựa chọn là đối tượng ưu tiên của chương trình giáo dục bảo tồn?
Khảo sát thực tế chỉ ra học sinh tiểu học có nhận thức tích cực đạt 62,15% nhưng kiến thức đúng chỉ đạt 34,3%. Việc can thiệp giáo dục sớm bằng hình ảnh trực quan giúp hình thành ý thức thế hệ vững chắc, đồng thời các em đóng vai trò là tuyên truyền viên tích cực tác động trực tiếp đến hành vi của cha mẹ trong gia đình.

Áp lực lớn nhất của người dân vùng đệm lên môi trường sống của Vượn Cao Vít là gì?
Áp lực lớn nhất không phải săn bắn mà là hoạt động chăn thả gia súc tự do, lấy củi sinh hoạt và canh tác nông nghiệp trên 21 ha đất thung lũng thuộc vùng lõi. Tập quán sống dựa vào rừng của 6.434 nhân khẩu vùng đệm khiến sinh cảnh 881,59 ha của vượn bị chia cắt và thu hẹp nguồn thức ăn.

Mô hình nào được đánh giá là giải pháp tối ưu để giảm thiểu phụ thuộc vào củi đốt rừng?
Mô hình triển khai hầm khí sinh học Biogas kết hợp bếp đun cải tiến tiết kiệm củi được chứng minh hiệu quả nhất tại xã Ngọc Khê và Ngọc Côn. Giải pháp này giúp các hộ gia đình giảm hơn 50% thời gian kiếm củi và giảm áp lực chặt phá rừng tự nhiên, tạo tiền đề vững chắc cho việc bảo vệ sinh cảnh.

Kết luận

  • Công trình khẳng định ý nghĩa sống còn của việc bảo tồn quần thể 110 cá thể Vượn Cao Vít tại vùng lõi 1.656,8 ha huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
  • Phát hiện khoảng trống rõ rệt giữa nhận thức chung (62,15%) và kiến thức chuyên sâu (34,3%) ở học sinh, đồng thời nhận diện 21 ha đất nông nghiệp trong vùng lõi là điểm nóng cần can thiệp.
  • Đánh giá toàn diện 400 mẫu khảo sát và chỉ ra hạn chế đứt gãy tài chính của các dự án truyền thông giai đoạn 2005-2009.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược: chuẩn hóa giáo dục học đường, mở rộng quy ước tại 32/32 thôn xóm, phát triển 200 hầm Biogas sinh kế và thiết lập mạng lưới tuyên truyền viên Tày - Nùng.
  • Xác định lộ trình triển khai giai đoạn 2013-2020 nhằm gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao đời sống dân sinh vùng đệm.

Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức quốc tế và cộng đồng địa phương cần nhanh chóng chung tay triển khai các giải pháp giáo dục bảo tồn có sự tham gia, bảo đảm giữ vững sinh cảnh nguyên vẹn cho loài Vượn Cao Vít quý hiếm.