đặt vấn đề là: “Môi trường hay phát triển” đã gây tai hại cho môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế đồng thời với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, Trang 21 z thải ra môi trường các chất độc hại, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, đến tính đa dạng sinh học. Có thể hiện tại con người đang hưởng những lợi ích của phát triển kinh tế nhưng chắc chắn rằng đồng thời kèm theo những tiềm ẩn của sự suy thoái nếu không quan tâm đến giới hạn của nó và khi đó ngay cả nhu cầu phát triển của thế hệ chúng ta cũng không được đáp ứng. Đây không còn là sự phỏng đoán mà thực tế đã chứng minh rằng việc khai thác rừng bừa bãi dẫn đến lũ lụt kéo dài, hay việc khai thác khoáng sản làm ô nhiễm nguồn nước, khí thải công nghiệp và GTVT gây mưa axit, sương mù, hiệu ứng nhà kính.
Chưa bao giờ vấn đề môi trường được quan tâm như ngày nay. Nếu như phát triển mà làm suy thoái môi trường thì điều này lại trở thành chặn đường phát triển. Phát triển là một nhu cầu tất yếu, vậy làm thế nào để duy trì phát triển trong giới hạn của nó. Chính yêu cầu này đã dẫn đến quan điểm mới: "Phát triển bền vững".
Phát triển bền vững (Sustainable Development): Thuật ngữ này xuất hiện chính thức lần đầu tiên trong ấn phẩm: “Chiến lược bảo tồn thế giới” (The World Conservation Strategy) do tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN), chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) và Quỹ bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (WWF) phát hành năm 1980 trong đó nhận định rằng tình hình sử dụng các tài nguyên thiên nhiên tái tạo là không lâu bền và đã đề xuất "việc sử dụng lâu bền các loài và các hệ sinh thái", tức là sử dụng ở mức thấp hơn khả năng mà các quần thể động, thực vật có thể sinh sản để tự duy trì. Nếu nhìn vào lịch sử, thì ý tưởng này đã được Meadows D.H nêu lên từ năm 1972 rằng "có thể làm thay đổi xu thế tăng trưởng và thiết lập điều kiện của sự ổn định về sinh thái và kinh tế lâu bền trong tương lai". Thuật ngữ này được phổ cập rộng rãi nhờ công trình “Tương lai chung của chúng ta" do Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển ban hành năm Trang 22 z 1987. Sau đó “phát triển bền vững" được nghiên cứu kỹ hơn và được trình bày trong 2 văn kiện quốc tế nổi tiếng về là “chăm lo cho trái đất"- một chiến lược về sự tồn tại bền vững do 3 tổ chức IUCN, UNEP, WWF công bố năm 1991 và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) là chương trình hành động được các nguyên thủ quốc gia thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển do Liên hiệp quốc tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro - Braxin, gần đây nhất là Hội nghị thượng đỉnh trái đất (Rio+10) diễn ra tại Johannesburg - Nam Phi từ ngày 26/8/2002 đến 04/09/2002.
Theo một thống kê chưa đầy đủ cho thấy có trên 70 định nghĩa khác nhau về phát triển bền vững đang được sử dụng. Theo Merman Đaly - Nhà kinh tế học của Ngân hàng thế giới (WB) thì: “Một thế giới phát triển bền vững là một thế giới không sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo nhanh hơn khả năng tự tái tạo của chúng". Theo tác phẩm “Tương lai chung của chúng ta" thì: Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ. Theo tác phẩm “Chăm lo cho trái đất" thì Phát triển bền vững là sự nâng cao chất lượng đời sống con người trong lúc đang tồn tại, trong khuôn khổ đảm bảo của các hệ thống sinh thái.
Trong báo cáo của Ủy ban Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển ( United Nations, 1987)[18] thì "Phát triển bền vững có nghĩa là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai". Điều đó chỉ ra rằng phát triển bền vững không phải là sự hài hoà cố định mà là một quá trình thay đổi trong việc thăm dò tài nguyên, phương hướng đầu tư, định hướng kỹ thuật và những thay đổi về thể chế không mâu thuẫn với những nhu cầu của hiện tại cũng như tương lai. Trang 23 z Như vậy, có thể thấy rằng phát triển bền vững là phát triển lành mạnh, xuất hiện trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm phát triển của các quốc gia, phản ánh xu thế phát triển của thời đại, và định hướng tương lai của nhân loại. Như các quốc gia và các dân tộc khác trên Thế giới, Việt nam chúng ta cũng mong muốn đất nước mình phát triển tốt và bền vững.
Trong quá trình hội nhập quốc tế về tài nguyên và môi trường, vào năm 1991, Việt Nam đã thông qua “Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991- 2000”. Đây là một trong những hoạt động về phát triển bền vững đầu tiên ở tầm quốc gia và được quốc tế chính thức công bố. Ngày 17/8/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Vietnam Agenda 21, 2008)[27] nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Cùng với hơn 110 nước khác, Việt Nam đã hội nhập vào con đường phát triển bền vững theo đúng các yêu cầu mà quốc tế mong đợi.
Chỉ tiêu môi trường trong phát triển bền vững giao thông đô thị Từ năm 1995 vấn đề môi trường đã được đề cập đến trong chính sách quy hoạch phát triển giao thông đô thị của liên minh Châu Âu. Mục tiêu chính của chính sách này là giảm ô nhiễm không khí từ các phương tiện vận tải đường bộ. Để thực hiện được mục tiêu này Ủy ban Cộng đồng Châu Âu (CEC) đã đề xuất ra ba giải pháp cần thực hiện đó là: 1- Giảm ùn tắc giao thông; 2- Giảm lượng phát thải trên từng phương tiện; 3-Giảm sở hữu phương tiện cá nhân (Commission of the European Communities (CEC), 1995)[20]. Theo báo cáo phát triển giao thông đô thị bền vững của Châu Âu năm 2006 của tổ chức bảo vệ môi trường và sức khỏe (HPA) tại Stockholm thì việc hoàn thiện các chỉ tiêu môi trường trong bước quy hoạch giao thông đô Trang 24 z thị là một chiến lược dài hạn và quan trọng.
Chiến lược này bao gồm các nội dung: Tăng hiệu quả của giao thông và logistic, thay thế phương tiện và nhiên liệu hóa thạch bằng phương tiện xanh và nhiên liệu tái tạo, tạo nên một xã hội ít phụ thuộc giao thông hơn hay ít bị ảnh hưởng bởi mức cung của hệ thống giao thông. Cũng theo báo cáo này Liên minh Châu Âu (EU) đã đề xuất các thành phố thuộc liên minh đều cần lập quy hoạch giao thông đô thị bền vững được viết tắt là SUTP (sustanable Urban Transport Planning). Để có một SUTP thì cần tích hợp giao thông và vận tải với quy hoạch sử dụng đất, quản lý môi trường, xã hội, kinh tế, an toàn, sức khỏe giao thông và giáo dục (Environmental and Health Protection Agency, 2006)[21]. Vấn đề môi trường trong giao thông đô thị và phát triển bền vững cũng đã được đề cập trong báo cáo của Viện nghiên cứu môi trường quốc gia thuộc Bộ môi trường và năng lượng Mỹ năm 2000 với tiêu đề ‘Các chỉ tiêu và biện pháp thực hiện cho môi trường, giao thông và phát triển bền vững ở Bắc Mỹ‘.
Trong báo cáo này đã nêu ra những chỉ tiêu môi trường và giao thông được xem xét tại Mỹ và Canada khi tiến hành quy hoạch phát triển giao thông nói chung và giao thông đô thị nói riêng bao gồm: Các chỉ tiêu liên quan đến giảm phát khí thải từ phương tiện tham gia giao thông và động cơ như: Chỉ tiêu CO2, NOx, VOC, bụi, ồn, trong đó đặc biệt chú ý đến khí nhà kính; chỉ tiêu liên quan sử dụng đất và môi trường sống; chỉ tiêu liên quan tới mưa axit; chỉ tiêu liên quan đến tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch,. Để giải quyết vấn đề môi trường do phát triển giao thông đô thị, tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) đã khởi xướng dự án Giao thông vận tải bền vững về môi trường (EST) vào năm 1994. Kể từ đó, vấn đề phát triển giao thông bền vững với môi trường đã thu hút được sự quan tâm một cách trực tiếp hoặc giám tiếp của nhiều nước trên toàn thế giới. Trang 25 z Tại hội nghị được tổ chức tại Vienna 4 ngày từ 4 - 6 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ Áo phối hợp với OECD với sự tham gia của 25 nước thành viên trên toàn thế giới đã đưa ra những quan điểm mới trong việc giải quyết vấn đề giao thông nói chung và giao thông đô thị nói riêng là tiến tới một hệ thống giao thông bền vững với môi trường.
Cũng từ hội nghị này định nghĩa về giao thông bền vững với môi trường được thống nhất như sau: Giao thông bền vững với môi trường (EST) là một hệ thống giao thông vận tải đáp ứng được nhu cầu vận tải và đi lại của người dân một cách an toàn, với phương thức bảo đảm sức khỏe con người, không ảnh hưởng tới hệ sinh thái, với sự công bằng đến mọi tầng lớp trong xã hội, đồng thời hạn chế sự phát thải và chất thải trong giới hạn hấp thụ của môi trường, hạn chế sự tiêu thụ nguồn tài nguyên không tái tạo, hạn chế tiếng ồn và tiết kiệm đất. Từ hội nghị này OECD đã đưa ra các chỉ tiêu phản ánh giao thông bền vững với môi trường như sau: Chỉ tiêu liên quan đến sử dụng đất thể hiện thông qua tỷ lệ đất dành cho giao thông (%). Chỉ tiêu về lượng nhiên liệu sử dụng như tỷ lệ nhiên liệu sạch, nhiên liệu tái tạo sử dụng trong giao thông; và tiêu chuẩn nhiên liệu và lộ trình áp dụng. Chỉ tiêu về khí thải và tiếng ồn như: lượng khí thải nhà kính; lượng khí thải SO2, NOx, VOC, bụi; tiêu chuẩn khí thải và lộ trình áp dụng; cường độ tiếng ồn giao thông đô thị.
Chỉ tiêu về phương thức giao thông như: tỷ lệ hành khách sử dụng GTCC; tỷ lệ hành khách sử dụng giao thông cá nhân; và tỷ lệ hành khách sử dụng giao thông phi cơ giới.