phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học và phát triển năng lực Vật lí Chƣơng 2: Tổ chức dạy học một số bài học trong chƣơng “Hạt nhân nguyên tử”, Vật lí 12 cơ bản Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬT LÍ 1. Hoạt động dạy 1. Khái niệm Trong xã hội loài ngƣời, các mặt tâm lý, trí tuệ hay cảm xúc của con ngƣời phát triển đƣợc là nhờ vào quá trình tiếp thu những kinh nghiệm.
Điều này góp phần hoàn thiện quá trình trƣởng thành về mặt xã hội của loài ngƣời. Và con đƣờng hiệu quả nhất của cơ chế này chính là con đƣờng dạy học. Thông qua học tập, năng lực loài ngƣời sẽ chuyển thành năng lực cá thể. Để làm đƣợc điều này thì cá nhân cần có thời gian hoặc nếu thời gian đƣợc rút ngắn thì do có sự hƣớng dẫn từ thế hệ đi trƣớc, từ những nhà giáo dục hoặc có kinh nghiệm về lĩnh vực cần hoàn thiện.
Phƣơng pháp sƣ phạm đặc biệt đƣợc sử dụng để tổ chức QTDH trong nhà trƣờng. Thông qua QTDH, ngƣời học đƣợc trang bị hệ thống kiến thức khoa học, hình thành kỹ năng cũng nhƣ thái độ tƣơng ứng. Các phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học đƣợc tiến hành phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí ngƣời học, tác động vào sự hứng thú và nhu cầu của ngƣời học, làm nảy sinh tính tích cực, phát triển các phẩm chất nhân cách đặc thù cho ngƣời học… Giáo dục nhân cách thông qua hoạt động học tập là con đƣờng cơ bản nhất của nhà trƣờng. Cá nhân nào trong xã hội cũng có khả năng tham gia quá trình dạy.
Nhƣng dạy học trong nhà trƣờng chỉ đƣợc thực hiện bởi những nhà sƣ phạm, những ngƣời đƣợc đào tạo nghề dạy học. Qua đó giúp ngƣời học có đƣợc những hiểu biết mang tính chất kinh nghiệm đƣợc đúc kết một cách xúc tích 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điều này làm nền tảng cho ngƣời học có thể thích ứng với cuộc sống hiện tại. Trong nhà trƣờng, con ngƣời đƣợc tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng và thái độ trong quá trình tìm tòi, xây dựng kiến thức mới.
Tuy nhiên ngoài những yếu tố đó còn có yếu tố đƣợc chú trọng nữa đó là hình thành cho học sinh năng lực giải quyết ở mức độ nhất định đối với một vấn đề thực tiễn đòi hỏi của cuộc sống. Muốn ngƣời học có thể lĩnh hội tri thức một cách đầy đủ và vận dụng vào thực tiễn nhƣ vậy thì ngƣời truyền đạt phải là ngƣời có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sƣ phạm. Ngoài môi trƣờng học tập là trƣờng học, học sinh cũng có nhƣng hoạt động học khác mà tại đó kiến thức đƣợc hình thành. Hình thức học đặc biệt phổ biến hiện nay chính là học qua trải nghiệm và tự học.
Học qua trải nghiệm nếu không có sự dẫn dắt sƣ phạm thì kiến thức thu về là những kiến thức tiền khoa học, có tính ngẫu nhiên và rời rạc. Ngƣời học chỉ lĩnh hội những tri thức liên quan đến nhu cầu hứng thú và nhiệm vụ trƣớc mắt. Trong khi đó hình thức tự học của học sinh cũng là nhu cầu tiếp thu kiến thức tự phát, nếu không có sự chỉ dẫn tƣ phía giáo viên thì lƣợng kiến thức vào chƣa đủ để đáp ứng nhu cầu bên ngoài. Do đó có thể nói phƣơng thức dạy học trong nhà trƣờng là phƣơng thức dạy học hiệu quả, thúc đẩy quá trình phát triển của ngƣời học.
Tóm lại, hoạt động dạy là hoạt động của người có chuyên môn sư phạm (giáo viên) tổ chức và hướng dẫn hoạt động của người học nhằm giúp người học lĩnh hội nền văn hóa xã hội,tri thức nhân loại; hoàn thiện và phát triển tâm lý và nhân cách [8]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Bản chất của hoạt động dạy Xét về bản chất của hoạt động dạy học, L. Vƣgôtxki cho rằng có hai kiểu dạy học ứng với hai kiểu định hƣớng khác nhau: - Dạy học có hƣớng vào mức độ hiện có của ngƣời học. Ngƣời dạy dạy tri thức, phƣơng pháp học cho học sinh khi biết học sinh đã có tri thức, kỹ năng và phƣơng pháp đã biết.
Điều này giúp học sinh củng cố lại kiến thức đã học, không nhằm đến sự phát triển về mặt nhận thức cũng nhƣ ý thức. - Dạy học hƣớng vào vùng phát triển gần. Ngƣời dạy dạy cho ngƣời học kiến thức mới mà trƣớc đó chƣa đƣợc học. Bằng nhiều con đƣờng khác nhau, ngƣời học đƣợc cung cấp tri thức cũng nhƣ kĩ năng mới.
Điều này giúp học sinh phát triển về mặt nhận thức và ý thức. Ngƣời học càng lớn lên thì kiến thức thu về càng nhiều, tạo nền tảng để tiếp thu kiến thức mới dễ dàng hơn. Tổ chức dạy học Ngƣời dạy trực tiếp tổ chức và điều khiển quá trình học của ngƣời học trong nhà trƣờng. Chính vì vây, quá trình tổ chức dạy học phải đƣợc xác định rõ ràng, có hệ thống các thao tác xác định.
Cụ thể: - Xác định mục tiêu đề bài, phân chia mức độ đạt đƣợc đối với các lớp học khác nhau. - Xác định và cung cấp phƣơng tiện, điều kiện dạy học cho ngƣời học. - Thiết kế tiến trình dạy học. - Chỉ dẫn ngƣời học làm theo qui trình.
- Đánh giá và hƣớng dẫn ngƣời học tự đánh giá kết quả đạt đƣợc. Quá trình thực hiện hoạt động dạy của GV đƣợc triển khai theo các bƣớc trên. Tuy nhiên sự thành công của tiết học cũng có phần không nhỏ của phƣơng pháp dạy học mà ngƣời dạy sử dụng trên lớp học. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Vấn đề phát triển năng lực Vật lí của học sinh 1. Khái niệm năng lực Vật lí 1.1 Khái niệm năng lực Năng lực là phạm trù đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đƣa ra hàng loạt các định nghĩa khác nhau. Denyse Tremblay cho rằng năng lực là “khả năng hành động thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” [10,tr. Trên quan điểm tâm lý học thì Phạm Minh Hạc định nghĩa: những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó gọi là năng lực.
Năng lực cũng là điều kiện để thực hiện có hiệu quả hoạt động đó hay không. Hay Trần Văn Tính có định nghĩa khác: Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả [8]. Mức độ năng lực của ngƣời đó đƣợc phản ánh qua mức độ hoàn thành công việc. Nguồn gốc khái niệm năng lực theo tiếng latin “competentia” có nghĩa là gặp gỡ tuy nhiên năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố nhƣ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵng sàng hành động và trách nhiệm đạo đức.
Năng lực đƣợc chia thành năng lực chung và năng lực chuyên môn. + Năng lực chung: là năng lực cơ bản trong nhiều lĩnh vực khác nhau để con ngƣời có thể sống và làm việc bình thƣờng trong xã hội nhƣ thuộc tính về thể lực, về trí tuệ (quan sát, trí nhớ, tƣ duy, tƣởng tƣợng, ngôn ngữ, sáng tạo, giải quyết vấn đề…). Năng lực này đƣợc hình thành và phát triển ở nhiều môn học. Theo quan niệm của EU đây là năng lực chính và mỗi năng lực chính cần: Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; giúp cho các cá nhân đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phức tạp; chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhƣng rất quan trọng đối với mọi ngƣời [9].
+ Năng lực riêng (năng lực chuyên biệt, chuyên môn) là năng lực đƣợc hình thành và phát triển do một lĩnh vực hoặc môn học cụ thể. Năng lực có đƣợc để đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt nhƣ năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất. Trong đó, năng lực chuyên môn muốn phát triển thì phải lấy nền tảng từ năng lực chung. Dù có sự phân biệt về mức độ chuyên biệt nhƣng quan hệ giữ năng lực chung và năng lực riêng là không thể tách rời mà còn bổ sung cho nhau.
Không những vậy, năng lực còn có thể phân chia theo cách hình thành dƣới cơ sở nguồn gốc phát sinh: + Năng lực tự nhiên (natural ability): Mỗi đứa trẻ sinh ra đều có những tƣ chất khác nhau, đó là những đặc tính cá thể về sinh lý giải phẫu của hệ thần kinh, của não bộ. Năng lực có đƣợc do bẩm sinh di truyền này là gọi là năng lực tự nhiên. Đây là loại năng lực có sẵn trong mỗi cá nhân, không cần đến tác động của giáo dục, đào tạo. Nó cho phép con ngƣời giải quyết đƣợc những yêu cầu tối thiểu cho mình trong cuộc sống.
+ Năng lực đƣợc đào tạo (trained ability): Năng lực tự nhiên giải quyết đƣợc những yêu cầu hạn hẹp đặt ra trong cuộc sống nhƣng thực tế lại luôn đặt ra những yêu cầu mới cần giải quyết. Để giải quyết một hay một số yêu cầu đó con con ngƣời cần phải có năng lực mới. Và năng lực mới này chỉ có đƣợc thông qua con đƣờng giáo dục, đào tạo và tự đào tạo. Năng lực có đƣợc do đào tạo đƣợc hình thành trên nền tảng của năng lực tự nhiên nhƣng ở một bậc cao hơn.
Năng lực đƣợc đào tạo là những phẩm chất của quá trình hoạt động tâm lý tƣơng đối ổn định và khái quát của con ngƣời. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học đƣợc hoặc có sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng nhƣ sự sẵn sàng về động cơ, xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt (Weinert, 2001) [11]. Nhƣ vậy, năng lực là khả năng thực hiện các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau trong những tình huống khác nhau một cách có hiệu quả, trách nhiệm dựa trên những hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [11].