Mở đầu câu chuyện cổ tích với mootip quen thuộc “ngày xửa ngày xưa”. - Nhận biết và phân tích được đặc điểm nhân vật thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ của nhân vật. + Hình dáng: nhân vật trong truyện cổ tích thường có hình dáng xấu xí (người đội lốt vật), hoặc to lớn có sức khỏe hơn người, đôi khi chỉ là những người nghèo khổ, bất hạnh… 5 + Cử chỉ, hành động: Nhân vật trong truyện cổ tích thường giúp đỡ người khác, chiến đấu với cái ác phi thường về một lĩnh vực nào đó (bắn cung, bơi lội, võ nghệ…), nhân vật có thể chết đi sống lại hoặc hóa thân vào loài vật, cây… + Ngôn ngữ: hết sức linh hoạt tùy theo người kể qua ngôn ngữ nhân vật dần hiện lên một cách sinh động từ ngoại hình đến đặc điểm tính cách. + Ý nghĩ nhân vật: phân chia theo hai tuyến thiện ác.
Nhân vật thiện trong truyện cổ tích luôn có tấm lòng lương thiện, ý nghĩ giúp đỡ người khác mà không cần báo đáp, nhân vật ác luôn suy nghĩ toan tính hãm hại, lừa dối người khác để chuộc lợi cho mình. Phát triển thể loại - Truyện cổ tích có tính giáo huấn cao, mỗi câu chuyện là một bài học về đạo đức, ứng xử, về lẽ công bằng, thưởng phạt công minh. - Yếu tố thần kì đóng vai trò quan trọng tạo nên tính hấp dẫn, li kì cho truyện cổ tích. Tác phẩm tiêu biểu Thạch Sanh, Ông lão đánh cá và con cá vàng (truyện cổ tích của A.
Khái niệm thể loại “Khái niệm chỉ một nhóm những sáng tác dân gian mà đặc điểm chung là trong đó có các yếu tố kì diệu, viễn tưởng, nhưng lại được cảm nhận là xác thực, diễn ra ở danh giới giữa thời gian lịch sử và thời gian thần thoại, hoặc diễn ra ở thời gian lịch sử. Phân loại Chia thành 2 loại: loại thứ nhất nghiêng về phía gắn với các nhân vật của lịch sử linh thiêng, loại thứ hai gắn với các nhân vật trần thế và không buộc phải có các yếu tố thần kì. Đặc trưng của thể loại - Nhận biết được một số yếu tố của truyện truyền thuyết: + Cốt truyện: đơn giản, ít tình tiết. 6 + Nhân vật: thường được xây dựng đơn giản, có sự kết hợp kỳ lạ giữa những nét đời thường, thế tục với những nét phi thường, kỳ ảo.
+ Lời người kể chuyện và lời nhân vật: giản dị, mộc mạc và chứa nhiều yếu tố lịch sử. Phát triển thể loại - Đề tài thường lấy từ lịch sử, những vấn đề có ý nghĩa trọng đại. - Sử dụng các yếu tố tưởng tượng, hư cấu. Tác phẩm tiêu biểu Thánh Gióng, An Dương Vương - Mị Châu - Trọng Thủy… ĐỒNG THOẠI 1.
Khái niệm Đồng thoại là một thể loại văn học, có nhiều khái niệm về Đồng thoại. Theo Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, 2001, tr 344: “Đồng thoại: thể truyện cho trẻ em, trong đó loài vật và các vật vô tri được nhân cách hóa, tạo nên một thế giới thần kì thích hợp với trí tưởng tượng của các em”. Đặc trưng thể loại - Nhận biết được một số yếu tố của truyện đồng thoại như: + Cốt truyện: không theo quy luật thực tế mà theo trí tưởng tượng. + Nhân vật: Nhân vật chính của truyện là các loài vật và các vật vô tri khác được nhân cách hóa.
+ Lời người kể chuyện và lời nhân vật: trong sáng, gần với tình cảm và tâm hồn tuổi thơ. - Nhận biết và phân tích được đặc điểm nhân vật thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ của nhân vật. Phát triển thể loại - Truyện Đồng thoại được sáng tác nhằm mục đích giáo dục trẻ em nên những bài học từ truyện rất cụ thể, nhẹ nhàng và sáng rõ. - Truyện giàu yếu tố hư cấu tưởng tượng.
Tác phẩm tiêu biểu: Dế mèn phưu lưu kí (Tô Hoài), Bức tranh của em gái tôi (Tạ Duy Anh), Búp sen xanh (Sơn Tùng), Điều không tính trước (Nguyễn Nhật Ánh),… THƠ LỤC BÁT 1. Khái niệm “Lục bát là thể thơ lâu đời của dân tộc, vốn là hình thức thơ ca truyền miệng dân gian. Lục bát có thể dùng để trữ tình hoặc tự sự. Đặc trưng thể loại - Nhận biết được số tiếng, số dòng, vần, nhịp của thơ lục bát: Gồm một câu 6 tiếng và một câu 8 tiếng.
Vần luật: tiếng thứ 6 trong hai câu lục bát phải vần với nhau. Nếu cặp câu thơ lục bát phát triển thành nhiều cặp thì tiếng thứ tám của câu bát phải hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo. Phối thanh: tiếng thứ 6 của câu 8 là thanh ngang (thanh bổng, âm vực cao) thì tiếng thứ tám phải là thanh huyền (thanh trầm, âm vực thấp) và ngược lại. Nhịp điệu lục bát cơ bản là mô hình 2/2/2, 2/2/2/2 nhưng có thể những biến hóa bất ngờ với các cách nhịp 3/3, 5/1, 1/5, 4/4,… cho nên hoàn toàn có thể diễn tả tinh vi của đời sống.
- Nhận biết và nêu được tác dụng của các yếu tố tự sự và trữ tình trong thơ: có khả năng chứa đựng không giới hạn mọi phương tiện thể hiện về ngôn ngữ: lời kể, lời bình, lời than, thoại, miêu tả tâm lý. Thơ lục bát chỉ cần hai câu cũng có thể diễn tả tâm trạng con người. Phát triển thể loại - Lục bát biến thể: + Số chữ tăng lên: Vần lưng tất nhiên cũng xê dịch theo. + Thanh: Tiếng thứ hai có thể là thanh trắc.
+ Gieo vần: Có thể gieo vần trắc. Tác phẩm tiêu biểu: Tre Việt Nam (Nguyễn Duy), Khi con tu hú (Tố Hữu). Khái niệm Khái niệm kí 8 Theo Giáo trình Lý luận văn học (tập 2), “nghĩa gốc của “kí” là ghi chép một sự việc gì đó để không quên” (Trần Đình Sử, 2014, tr.356) Theo Từ điển tiếng Việt: kí là “thể văn tự sự viết về người thật, việc thật, có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất” (Viện Ngôn ngữ học, 2016, tr.657) Theo Từ điển thuật ngữ văn học, kí là “một là loại hình trung gian nằm giữa báo chí và văn học gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tuỳ bút,…” (Lê Bá Hán…, 2007, tr.162) Khái niệm hồi kí Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Hồi kí là “một thể loại thuộc loại hình kí, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến” (Lê Bá Hán…, 2007, tr. Đặc trưng thể loại - Nhận biết được hình thức ghi chép: cách kể sự việc, người kể chuyện ngôi thứ nhất của hồi kí hoặc du kí.
+ Loại hình văn học thời sự, một thể văn xung kích theo sát các vấn đề nóng hổi, cấp bách của hiện thực mang ý nghĩa xã hội rộng lớn. + Nội dung cơ bản của kí, ngay ở hình thức sơ khai của nó, là thông tin về ý nghĩa, về giá trị nhân sinh của sự việc được ghi. Phát triển thể loại - Kí điều chỉnh tối đa khoảng cách giữa thời gian sự kiện và thời gian trần thuật. - Kí kết hợp linh hoạt các phuơng thức tự sự, trữ tình, nghị luận với những thao tác tư duy khoa học.
Tác phẩm tiêu biểu: Cô Tô (Nguyễn Tuân), Cây tre Việt Nam (Thép Mới), Lòng yêu nước (I. Ehrenburg), Một lít nước mắt (Kito Aya), Người ngồi đợi trước hiên nhà (Huỳnh Như Phương), Những năm tháng ở tiểu học (trích Hồi kí Nguyễn Hiến Lê), Thẳm sâu Hồng Ngài (Tống Lam Linh), Thương nhớ mười hai (Vũ Bằng), Tôi ăn tết ở Côn Lôn (Khương Việt), Trưa tha hương (Trần Cư),… 9 LỚP 7 TRUYỆN NGỤ NGÔN 1. Khái niệm Theo 150 thuật ngữ văn học, ngụ ngôn “là một thể loại của văn học giáo huấn, thường được sử dụng phúng dụ như một nguyên tắc tổ chức tác phẩm” (Lại Nguyên Ân, 2017, tr. 288) Ngoài ra, truyện ngụ ngôn là loại truyện kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần, muộn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng nói gió nhằm khuyên nhủ răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống.
Đặc trưng thể loại Nhận biết được một số yếu tố của truyện ngụ ngôn như: đề tài, cốt truyện, nhân vật. • Đề tài: thường mượn những sự vật cụ thể như loài vật, loài cây, con người,. để so sánh, ví von, phê phán những thói hư tật xấu của con người hay đả kích giai cấp (thống trị) hay đưa ra những bài học thực tiễn. • Cốt truyện: cốt truyện ngụ ngôn ngắn, hàm súc, giàu sức biểu hiện, bộc lộ bản chất của đối tượng và hình thức phúng dụ trợ giúp đắc lực cho sự thuyết minh tính cách của nhân vật ngụ ngôn.
• Nhân vật: nhân vật trong truyện ngụ ngôn rất đa dạng, có thể là bất cứ cái gì trong vũ trụ: từ con người, thần linh đến loài vật, loài cỏ,. Nhân vật trong truyện ngụ ngôn được xây dựng đối lập giữa thông minh và ngu ngốc, tốt bụng và xấu xa, bé nhỏ và to lớn. Phát triển thể loại Kết cấu của truyện ngụ ngôn thường ngắn, ít tình tiết thường mỗi truyện chỉ một tình tiết trong khi câu chuyện cổ tích thường có đầu có đuôi. Nét đặc biệt trong kết cấu của truyện ngụ ngôn là phần truyện kể nổi lên, còn phần ý nghĩa lắng đọng lại mà người đọc rút ra.
Truyện ngụ ngôn thường dùng những ẩn dụ thông qua ngôn ngữ hàm súc. Tác giả dân gian còn miêu tả đặc điểm phổ biến của các con vật để biểu trưng cho con người. Từng con vật tiêu biểu cho từng loại người trong xã hội. Tác phẩm tiêu biểu: Ếch ngồi đáy giếng (Truyện ngụ ngôn Việt Nam),.
10 TRUYỆN KHOA HỌC VIỄN TƯỞNG 1. Khái niệm “Văn học viễn tưởng là những tác phẩm văn học (chủ yếu là văn xuôi – truyện, tiểu thuyết) lấy viễn tưởng làm phương thức xây dựng hình tượng và tổ chức cốt truyện. Viễn tưởng là một phương pháp miêu tả đặc thù, sử dụng những dạng hình tượng (những khách thể, những tình huống, những thế giới), trong đó những yếu tố của thực tại được kết hợp với nhau theo lối siêu tự nhiên, kì lạ, khó tin. Phân loại Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán…, 2007, tr.418), truyện viễn tưởng được phân loại thành: truyện viễn tưởng tôn giáo, truyện viễn tưởng thần thoại và truyện viễn tượng khoa học.
Đặc trưng thể loại Nhận biết được một số yếu tố của truyện khoa học viễn tưởng. Đề tài: viễn tưởng trở thành một thể loại ước lệ nghệ thuật, trong đó sự hư cấu của tác giả trải rộng từ việc mô tả những hiện tượng lạ lùng, bất thường, đến việc tạo ra một “thế giới kì diệu”, không có thực.