PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự phát triển năng động của nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nƣớc nhanh hơn. Khoa học công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội.
Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học-công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội hiện đại. Do đó, vấn đề giáo dục công nghệ ở bậc phổ thông rất cần thiết. Giáo dục công nghệ có nhiệm vụ hình thành tƣ duy kỹ thuật và hƣớng nghiệp cho học sinh bậc phổ thông. Chủ trƣơng đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc là nâng cao chất lƣợng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất [16, 8] [4,6].
Mục tiêu dạy học không chỉ dừng lại ở kiến thức mà mục tiêu dạy học ngày nay còn đào tạo ra con ngƣời có kỹ năng đáp ứng nhu cầu của xã hội, học tập suốt đời, và các kỹ năng thế kỷ 21 của thế giới. Trong những năm gần đây, hệ thống đào tạo nghề nói riêng (Giáo dục nói chung)có khuynh hƣớng chuyển đổi hình thức dạy học truyền thống (Kiến thức và thực hành) sang hình thức đào tạo theo năng lực thực hiện, ứng với sự ra đời khái niệm bài giảng tích hợp. Và sự chuyển biến đó tất yếu kéo theo sự thay đổi và đòi hỏi phải áp dụng các phƣơng pháp (Tổ chức) dạy học mới nhƣ: giải quyết vấn đề, học tập theo kinh nghiệm, học tập theo dự án… mà trƣớc đây chƣa đƣợc chú trọng [14,56] [5,36]. Mỗi phƣơng pháp dạy học kể trên đều có những đặc điểm, thế mạnh riêng nên không thể cho phƣơng pháp nào là nổi trội hơn cả.
Vì vậy việc lựa chọn và vận dụng linh hoạt các phƣơng pháp này vào thực tiễn dạy học là rất cần thiết và phải tuân thủ nguyên tắc, đặc trƣng riêng của mỗi phƣơng pháp. Có nhƣ vậy, quá trình dạy học mới hƣớng đến ngƣời học, hình thành năng lực cho ngƣời học. Đó là các năng lực về chuyên môn (Professional competency), năng lực xã hội (Social 1 Luan van competency), năng lực cá thể (Individual competency) và năng lực phƣơng pháp (Methodical competency). [29,11] Năng lực cá thể Năng lực chuyên môn Năng lực xã hội Năng lực phƣơng pháp Năng lực hành động Hình 1.1: Cấu trúc năng lực hành động.
Với dạy học theo dự án ngoài thành tố năng lực giải quyết vấn đề, còn bao gồm tất cả các năng lực thành phần nêu trên; và đó cũng là cơ sở để hình thành năng lực ở ngƣời học [14,18]. Điều này đƣợc khẳng định qua nhiều nghiên cứu và ứng dụng của Tổ chức Giáo dục George Lucas, Viện nghiên cứu Giáo dục Buck, … chƣơng trình dạy học dự án của Intel, Microsoft và dự án Việt – Bỉ tại Việt Nam. Để nâng cao chất luợng dạy môn công nghệ và hình thành cho nguời học những năng lực thành phần trên, thông qua kết quả thực nghiệm cho môn học Công Nghệ ở trƣờng THPT Nguyễn Trãi. Tác giả chọn đề tài là: " Dạy học theo dự án môn Công Nghệ lớp 11 trường Trung học phổ thông Nguyễn Trãi – Bình Dương".
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.1 Mục tiêu nghiên cứu. Vận dụng dạy học theo dự án cho môn Công nghệ 11 nhằm năng cao hiệu quả, chất lƣợng dạy và học.2 Nhiệm vụ nghiên cứu. - Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học theo dự án. - Khảo sát thực trạng về tổ chức dạy học môn Công nghệ một số trƣờng THPT trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng.
- Đề xuất tiến trình dạy học dự án. - Thiết kế mẫu giáo án dạy học theo dự án cho các bài: bài 10, bài 16, chƣơng 7 trong môn Công nghệ 11. - Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm có đối chứng để kiểm nghiệm giả thuyết của đề tài. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu.1 Đối tƣợng nghiên cứu.
Dạy học theo dự án môn Công nghệ lớp 11 tại trƣờng THPT Nguyễn Trãi - Bình Dƣơng.2 Khách thể nghiên cứu. Tài liệu nghiên cứu, sách giáo khoa. Cơ sở vật chất, thiết bị hỗ trợ cho việc dạy và học môn Công nghệ ở các trƣờng THPT trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng. Quá trình dạy học môn Công nghệ.
Giới hạn đề tài Đề tài nghiên cứu vận dụng dạy học môn Công nghệ lớp 11 theo dự án ở trƣờng THPT Nguyễn Trãi - Bình Dƣơng. Phần thực nghiệm tiến hành giảng dạy ở lớp 11A4, 11A2 đối chứng và lớp 11A1, 11A3 thực nghiệm. Giả thuyết nghiên cứu. Nếu thực hiện việc vận dụng tổ chức dạy học môn công nghệ theo dạy học dự án sẽ nâng cao chất lƣợng dạy và học.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Để thực hiện đề tài, ngƣời nghiên cứu sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau: 6.1 Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận: Nhằm tìm hiểu lịch sử nghiên cứu, kế thừa thành tựu của ngƣời đi trƣớc và thu thập thông tin, nguồn tài liệu chủ yếu bao gồm: Tham khảo các văn kiện, văn bản pháp qui đổi mới phƣơng pháp dạy học. Các tạp chí, báo cáo khoa học, tài liệu lƣu trữ, sách giáo khoa, số liệu thống kê, thông tin đại chúng, v.v…về phƣơng pháp dạy học nói chung, phƣơng pháp dạy học theo dự án hiện nay trên thế giới và Việt Nam nói riêng, lý thuyết học tập, thiết kế dạy học … Phân tích, tổng hợp đánh giá. Phƣơng pháp thực tiễn.1 Phương pháp quan sát: Dự giờ lên lớp của giáo viên môn công nghệ ở trƣờng THPT Nguyễn Trãi.2 Phương pháp điều tra – phỏng vấn.
Phát phiếu điều tra đến học sinh và giáo viên về hình thức tổ chức lớp học cho môn Công nghệ. Phỏng vấn về sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trƣờng đối với môn Công nghệ.3 Phương pháp thực nghiệm. Thực nghiệm giảng dạy môn Công nghệ lớp 11 theo dự án 11A2, 11A4 đối chứng và 11A1, 11A3 thực nghiệm do giáo viên trƣờng THPT Nguyễn Trãi thực hiện. Thông qua bài kiểm tra xử lý kết quả thực nghiệm giữa lớp đối chứng và lớp thực nghiệm.3 Phƣơng pháp thống kê.
Phân tích kết quả thực nghiệm. Kiểm nghiệm giả thiết nghiên cứu. Những giá trị đóng góp của đề tài. Vận dụng dạy học theo dự án vào môn Công nghệ 11 tại trƣờng THPT Nguyễn Trãi – Bình Dƣơng phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và đặc điểm của học sinh.
5 Luan van PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 1.1 Tổng quan về dạy học theo dự án. Dạy học theo dự án có nguồn gốc từ châu Âu (thế kỉ 16, ở Ý và Pháp). Đầu thế kỉ 20, lần đầu tiên nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ William Heard Kilpatrick (Kilpatrick, 1918) đã miêu tả chi tiết dạy học dự án trong bài luận “Project Method (Phƣơng pháp dự án)”. Nhà giáo dục John Dewey (Dewey, 1966) chỉ ra lợi ích của việc học tập trãi nghiệm, học tập thực hành và định hƣớng ngƣời học “Learning by doing (học thông qua công việc)” [26,1].
Ở châu Âu, có các nhà khoa học nhƣ Makarenko (1888-1939), Freinet (1896-1966) cũng nghiên cứu về phƣơng pháp dự án. Những năm 1990 với sự phát triển của viễn thông, dạy học dự án đã đƣợc xác định lại là một phƣơng pháp dạy học với sự hỗ trợ nhiều phƣơng tiện kỹ thuật. Trong đó, nhiệm vụ của giáo viên là đánh giá tính xác thực của tiến trình thực hiện, phát triển kĩ năng tƣ duy, hƣớng dẫn ngƣời học trong việc lựa chọn các quyết định trong cuộc sống và cung cấp kinh nghiệm cho mỗi cá nhân học tập. Dạy học dự án đƣợc xây dựng dựa trên thuyết kiến tạo (Piaget, Perkins, 1991; Piaget, 1969; Vygotsky, 1978) học thuyết này nhấn mạnh việc học tập dựa trên kiến thức trƣớc đó cùng với sự tƣơng tác môi trƣờng xã hội.
Phƣơng pháp dạy học dự án đã thực hiện quan điểm dạy học định hƣớng vào ngƣời học, lấy ngƣời học làm trung tâm, khắc phục nhƣợc điểm của dạy học truyền thống. Ban đầu phƣơng pháp dự án đƣợc sử dụng trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau đƣợc dùng trong hầu hết các môn học khác, bao gồm cả các môn khoa học xã hội. Hiện nay phƣơng pháp dự án đƣợc sử dụng phổ biến trong các trƣờng phổ thông và đại học trên thế giới, đặc biệt ở những nƣớc phát triển. Học theo dự án là phƣơng pháp học tập mang tính xây dựng kiến thức.
Trong đó, ngƣời học hoàn toàn chủ động tham gia hoạt động học dƣới sự hƣớng dẫn của ngƣời dạy để tạo ra một sản phẩm. Vận dụng các kiến thức đã học để tìm hiểu, Luan van thực hành nghiên cứu một vấn đề trong học tập hay giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Hay nói khác, học theo dự án là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho ngƣời học tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống. Quá trình học theo dự án giúp ngƣời học củng cố kiến thức, xây dựng các kỹ năng hợp tác, giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang học tập suốt đời cho ngƣời học.
Ngƣời học thực hiện nhiệm vụ tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể, với mục tiêu tạo cơ hội để ngƣời học kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng và thái độ có giá trị [32,2]. Việc đƣa dự án vào trong chƣơng trình dạy học không phải là ý tƣởng mới lạ hay mang tính cách mạng trong giáo dục. Dạy học theo dự án phát triển mạnh cùng với cách mạng về các lý thuyết học tập. Các nghiên cứu trong khoa học thần kinh và tâm lý học đã mở rộng việc ứng dụng mô hình nhận thức và mô hình hành vi vào quá trình dạy và học, Dạy học dự án mang lại hứng thú cho ngƣời học, những dự án đƣợc thiết kế tốt sẽ khuyến khích việc nghiên cứu tích cực và hình thành tƣ duy bậc cao [27.
Dạy học theo dự án mang lại lợi ích cho cả hai đối tƣợng: giáo viên và học sinh. Ngày càng nhiều các nghiên cứu lí luận ủng hộ việc áp dụng việc dạy học theo dự án trong trƣờng học để khuyến khích học sinh, giảm thiểu hiện tƣợng bỏ học, thúc đẩy các kỹ năng học tập hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập (Quỹ Giáo dục George Lucas, 2001). Đối với học sinh, dạy học theo dự án mang lại những ích lợi sau: • Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập (Thomas, 2000).