CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC, KĨ NĂNG ĐÃ HỌC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN NỘI DUNG “ĐỘNG LỰC HỌC - VẬT LÍ 10” 1. Khái niệm năng lực Giáo dục trên thế giới đang đi theo xu hướng dạy học và đánh giá theo NL. Vì vậy mà dạy học theo NL đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục và cả xã hội. Vậy thì NL là gì? Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: " NL là một tổ hợp đặc điểm tâm lí của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy" [11].
Xem xét NL là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân, các tác giả Trần Thị Uẩn đưa ra khái niệm “NL là một thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động xác định đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp” [trích theo 13] Một số tác giả còn cho rằng: NL là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm, hay NL là tổ hợp các kỹ năng của cá nhân đảm bảo thực hiện một dạng hoạt động nào đó, hoặc NL được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự tạo thành, hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể [16]. Định nghĩa NL trong Từ điển Tiếng Việt cũng dựa trên các dấu hiệu tâm lý: “NL là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [4]. Các định nghĩa nêu trên dựa vào các dấu hiệu, tố chất và yếu tố khác nhau, nhưng đều chỉ ra một số các dấu hiệu đặc trưng cơ bản: Đề cập đến xu hướng để đạt được một kết quả, của một công việc cụ thể (học tập, tư duy, quản lý bản thân, …), do một con người cụ thể thực hiện mà không tồn tại NL chung chung. Có sự tác động của một cá nhân cụ thể, tới một đối tượng cụ thể (KTKN, quan 5 hệ xã hội,…) để có một sản phẩm nhất định, do đó có thể phân biệt được NL của người này với NL của người khác.
NL là một yếu tố cấu thành từ nhiều yếu tố trong một hoạt động cụ thể. NL chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể, vì vậy NL vừa là mục tiêu, vừa điều kiện và vừa là kết quả hoạt động. Từ những dấu hiệu bản chất trên, quá trình dạy học hình thành, phát triển NL cho HS tất yếu phải đưa cá nhân HS tham gia vào các hoạt động học tập, giáo dục. Chính vì vậy, CT GDPT tổng thể ban hành năm 2018 đã nêu rõ: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các KTKN và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những sự kiện cụ thể.
Trong đó, NL cốt lõi là NL cơ bản thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả” [2]. Định nghĩa này đã chỉ đạo toàn bộ quá trình dạy học theo hướng phát triển NL người học ở các bậc GDPT Việt Nam trong quá trình đổi mới hiện nay. Năng lực Vật lí ❖ Khái niệm Theo CTGDPT 2018 [1], Vật lí là môn học lựa chọn trong nhóm môn Khoa học tự nhiên ở giai đoạn định hướng nghề nghiệp. Cũng như một số NL khác, khó tìm được một định nghĩa cụ thể cho năng lực Vật lí.
Tuy nhiên, căn cứ định nghĩa về NL khoa học của OECD và cấu trúc NL khoa học theo quan điểm PISA có thể đưa ra khái niệm NLVL như sau: NL Vật lí là khả năng sử dụng kiến thức Vật lí để xác định câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên các bằng chứng để hiểu và đưa ra quyết định về thế giới tự nhiên và những thay đổi đó phù hợp với hoạt động của con người. ❖ Cấu trúc, biểu hiện của NL Vật lí Theo CTGDPT tổng thể 2018 [1], NL Vật lí có cấu trúc và những biểu hiện cụ thể thể hiện qua bảng sau đây: Bảng 1. Yêu cầu cần đạt và năng lực đặc thù của môn Vật lí Thành phần năng lực Biểu hiện 1.Nhận thức Vật lí: (1) Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện 6 Nhận thức được kiến tượng, quy luật, quá trình Vật lí thức, kĩ năng phổ thông (2) Trình bày được các hiện tượng, quá trình Vật lí; đặc cốt lõi về: mô hình hệ điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình vật bằng các hình Vật lí; năng lượng và thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ. sóng; lực và trường; (3) Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nhận biết được một số nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi ngành, nghề liên quan đọc và trình bày các văn bản khoa học.
(4) So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá trình Vật lí theo các tiêu chí khác nhau. (5) Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình. (6) Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận. (7) Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân.
(1) Đề xuất vấn đề liên quan đến Vật lí: Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức, kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất.Tìm hiểu thế giới tự (2) Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn nhiên dưới góc độ Vật đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả lí: thuyết cần tìm hiểu. Tìm hiểu được một số (3) Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội hiện tượng, quá trình dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan Vật lí đơn giản, gần gũi sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu); lập trong đời sống được kế hoạch triển khai tìm hiểu. (4) Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải 7 thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết (5) Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục. (6) Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp.
(1) Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn. (2) Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của vấn đề thực tiễn 3. Vận dụng kiến thức, (3) Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và kĩ năng đã học thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới. (4) Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững.
Trong khóa luận này sẽ tập trung làm rõ và xây dựng kế hoạch nhằm phát triển NL VDKTKN đã học theo CTGDPT tổng thể 2018. Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học 1. Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của học sinh Theo Đại từ điển Tiếng Việt, vận dụng nghĩa là dùng tri thức, lí luận vào thực tiễn [4]. Theo Phan Thị Thanh Hội và Nguyễn Thị Tuyết Mai cho rằng: “Vận dụng kiến thức kĩ năng là mức độ nhận thức cao nhất của con người, quá trình này vừa giúp HS củng cố, nâng cao kiến thức vừa góp phần rèn luyện kĩ năng học tập và kĩ năng sống.
Thông qua vận dụng kiến thức vào thực tiễn thúc đẩy gắn kết kiến thức trong nhà trường với thực tiễn đời sống [12]. 8 NL gắn liền với kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương ứng, chứa đựng những yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong các thao tác hành động, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong nhiều tình huống khác nhau, trong lĩnh vực hoạt động rộng hơn. Theo các tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Phan Thị Thanh Hội vận dụng KTKN đã học là “ khả năng chủ thể phát hiện được VĐTT huy động được các kiến thưc liên quan hoặc tìm tòi, khám phá các kiến thức nhằm thực hiện giải quyết các VĐTT đạt hiệu quả” [9]. Tác giả Lê Thanh Huy và Lê Thị Thao cho rằng: “NL vận dụng kiến thức là khả năng của bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó ” [6].
Một số quan niệm khác cũng cho rằng: NL VDKTKN đã học là khả năng của bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách VDKTKN đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và khả năng biến đổi của nó. NL VDKTKN đã học thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức [15].