Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tình hình nghiên cứu và triển khai vận dụng mô hình hóa trong dạy học toán 1. Tình hình nghiên cứu và triển khai vận dụng mô hình hóa trong dạy học toán trên thế giới Mục tiêu quan trọng của chương trình toán học phổ thông đó là hình thành và phát triển cho HS khả năng vận dụng tri thức toán học để giải quyết những tình huống nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống. Điều này được chương trình đánh giá HS quốc tế PISA quan tâm nghiên cứu từ năm 2000.
Chương trình PISA đánh giá 8 năng lực đặc trưng của toán học đó là: Tư duy và lập luận (thinking and reasoning); suy luận và chứng minh toán học (argumentation); giao tiếp toán học (communication); mô hình hóa (modeling); nêu và giải quyết vấn đề (problem posing and solving); biểu diễn (representation); sử dụng kí hiệu và ngôn ngữ toán học (using symbolic, formal and technical language and operations); sử dụng công cụ tính toán (using of aids and tools). Kết quả thu được từ chương trình PISA sẽ giúp các nước đánh giá được những năng lực toán học cốt lõi của HS phổ thông, từ đó xây dựng chiến lược phát triển chương trình giáo dục toán học quốc gia. Trong các năng lực trên, mô hình hóa là năng lực được nhiều quốc gia trên thế giới đề cập đến từ hai thập niên trước và giữ vị trí ngày càng quan trọng trong chương trình môn Toán phổ thông của nhiều nước như Hoa Kì, Đức, Pháp, Anh, Trung Quốc, Singapore,… Tiếp cận từ yêu cầu đánh giá NL MHHTH trong giáo dục mô hình toán học, kỹ thuật và kinh tế (ICTMA12), các tác giả Jensen, T. (2007, 141-148, Horwood, [51]) đã phân tích làm rõ khái niệm NL MHHTH từ góc nhìn đa chiều (NL giải quyết được khía cạnh nào của quá trình MHHTH; Phạm vi những tình huống mà NL MHHTH tác động được; Các cấp độ của NL Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Từ tiếp cận đa chiều này, các tác giả nghiên cứu đánh giá NL MHHTH dựa trên mô hình “hình học” trực quan 3 chiều, trong đó nhấn mạnh đến những khó khăn gặp phải khi đánh giá NL này. Trong bài báo Mô hình hóa toán học các hiện tượng biến thiên trong dạy học nhờ hình học động dự án nghiên cứu Mira của Annie Bessot, Nguyễn Thị Nga (2011, Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, 85, 55- 63. [1]), các tác giả đã cụ thể hóa hoạt động MHHTH trên những hiện tượng biến thiên trong thực tiễn nhờ công cụ hình học động.
Ở đó, những hiện tượng biến thiên được MHHTH dựa vào sự hỗ trợ của một số phần mềm hình học động như G. Như vậy, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về NL MHHTH ở tầm lý thuyết vĩ mô, đủ để làm cơ sở lý luận cho những nghiên cứu cụ thể hóa lý thuyết này trong giáo dục toán học ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu và triển khai vận dụng mô hình hóa toán học trong dạy học toán ở Việt Nam Đã có một số công trình nghiên cứu vận dụng MHHTH vào dạy học toán ở các cấp, bậc học ở Việt Nam. Một số cuốn sách chuyên khảo: Vũ Như Thu Hương, Lê Thị Hoài Châu (2013, [20]), Mô hình hóa với phương pháp tích cực trong dạy học toán (tài liệu bồi dưỡng giáo viên).
Ở đó, các tác giả phân tích làm rõ mối quan hệ giữa tiếp cận MHH với yêu cầu và PPDH tích cực trong môn toán. Nguyễn Danh Nam (2016, [29]). Phương pháp mô hình hóa trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông, Sách chuyên khảo, Nxb Đại học Thái Nguyên. Một số đề tài luận án tiến sỹ và bài báo khoa học: Nguyễn Thị Tân An (2012-[2], 2013-[3], 2014-[4]) với các bài báo, luận án tiến sỹ về các vấn đề: Làm rõ sự cần thiết của mô hình hóa trong dạy học toán; Xây dựng các tình huống dạy học hỗ trợ quá trình toán học hóa; Sử dụng toán học hóa để phát triển các năng lực hiểu biết định lượng của HS lớp 10.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Phan Anh (2012, [6]) với luận án tiến sỹ về vấn đề: Phát triển năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn cho HS Trung học phổ thông qua dạy học Đại số và Giải tích. Vận dụng mô hình hóa vào dạy học môn Toán ở trường phổ thông. Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, số 06, tr. Một số đề tài luận văn Thạc sỹ: Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Hồng Cúc (2011, [11]) về dạy học mô hình hóa hàm số thông qua bài toán tính diện tích trong môi trường tích hợp phần mềm Cabri II Plus; Luận văn Thạc sỹ của Phạm Việt Hà (2016, [14]): Bồi dưỡng năng lực mô hình hóa toán học các bài toán thực tiễn cho HS THCS thông qua dạy học nội dung phương trình và hệ phương trình.
Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Hữu Hải (2014, [15]) nghiên cứu hướng dẫn HS trung học xây dựng mô hình toán học của một số tình huống thực tiễn. Luận văn Thạc sỹ của Phan Thị Thu Hiền (2014, [17]) về việc: Vận dụng phương pháp mô hình hóa trong dạy học Đại số lớp 10 ở trường Trung học phổ thông … Nhìn chung, các công trình này tập trung làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của MHHTH và vận dụng PP MHHTH vào môn toán phổ thông. Tuy nhiên, chưa có công trình nào thực tế nghiên cứu về NL MHHTH trong DH Đại số ở THCS. Mô hình hóa toán học 1.
Các khái niệm cơ bản Mô hình được mô tả như một vật dùng thay thế mà qua đó ta có thể thấy được các đặc điểm đặc trưng của vật thể thực tế. Thông qua mô hình, ta có thể thao tác và khám phá các thuộc tính của đối tượng mà không cần đến vật thật. Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào ý đồ của người thiết kế mô hình và bối cảnh áp dụng của mô hình đó. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Mô hình sử dụng trong dạy toán là một mô hình trừu tượng sử dụng ngôn ngữ toán học để mô tả về một hệ thống nào đó.
Nó có thể hiểu là các hình vẽ, bảng biểu, hàm số, đồ thị, phương trình, hệ phương trình, sơ đồ, biểu đồ, biểu tượng hay thậm chí cả các mô hình ảo trên máy vi tính [theo 49, tr. Mô hình được dùng để mô tả một tình huống thực tiễn nào đó, mô hình toán học được hiểu là sử dụng công cụ toán học để thể hiện nó dưới dạng của ngôn ngữ toán học, trong đó MHH là quá trình tạo ra các mô hình để giải quyết các vấn đề toán học liên quan đến các tình huống thực tiễn [54, tr. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi thống nhất với những quan điểm ở trên, và hiểu “mô hình” ở đây theo cách tiếp cận “mô hình trừu tượng” - bao gồm tất cả các cách biểu đạt trong môn toán để mô tả tình huống thực tiễn. Khái niệm mô hình hóa toán học Trong [53], các tác giả Nguyễn Danh Nam và Trần Trung đã làm rõ quan niệm về MHH trong dạy học toán, xem đó là quá trình giúp HS (HS) tìm hiểu, khám phá các tình huống nảy sinh từ thực tiễn bằng công cụ và ngôn ngữ toán học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin.
Quá trình này đòi hỏi HS cần có các kỹ năng và thao tác tư duy toán học như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa. Ở trường phổ thông, MHH diễn tả mối quan hệ giữa các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội với nội dung kiến thức toán học trong sách giáo khoa thông qua ngôn ngữ toán học như kí hiệu, đồ thị, sơ đồ, công thức, phương trình. Mô hình hóa trong dạy học toán là quá trình giúp HS tìm hiểu, khám phá các tình huống nảy sinh từ thực tiễn bằng công cụ và ngôn ngữ toán học như hình vẽ, bảng biểu, hàm số, đồ thị, phương trình, kí hiệu, sơ đồ, công thức, … Tham khảo các công trình đã có, đối chiếu với thực tiễn dạy học Đại số ở THCS, trong luận văn này, chúng tôi hiểu: Mô hình hóa trong dạy học Đại số THCS là quá trình giúp HS tìm hiểu, khám phá các tình huống nảy sinh từ thực tiễn bằng công cụ và ngôn ngữ Đại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Như vậy, MHH Đại số đi từ tình huống bài toán thực tiễn chuyển thành bài toán Đại số thuần tuý và giải bài toán bằng công cụ Đại số, sau đó quay lại trả lời cho yêu cầu ở bài toán thực tiễn.
Quá trình mô hình hóa toán học Tham khảo Nguyễn Thị Tân An ([2], [3], [4]), Nguyễn Danh Nam ([24], [26], [29]) quá trình MHHTH có thể xem xét theo những sơ đồ sau: 1. Sơ đồ quá trình MHH của Pollak (1979) 1. Sơ đồ của Blum và Leiß Sơ đồ 1. Sơ đồ quá trình MHH của Blum và Leiß (2006) 1.
Sơ đồ của Stillman, Galbraith, Brown và Edwards Sơ đồ 1. Sơ đồ quá trình MHH của Stillman, Galbraith, Brown và Edwards (2007) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Quá trình MHH các tình huống thực tế trong dạy học toán sử dụng các công cụ và ngôn ngữ toán học phổ biến như công thức, thuật toán, phương trình, hệ phương trình, bảng biểu, biểu tượng, đồ thị, kí hiệu. Theo Swetz & Hartzler (1991), quy trình MHH gồm 4 giai đoạn chủ yếu sau đây (tham khảo từ [55], [52], [24]): * Giai đoạn 1: Quan sát hiện tượng thực tiễn, phác thảo tình huống và phát hiện các yếu tố (tham số) quan trọng có ảnh hưởng đến vấn đề thực tiễn. * Giai đoạn 2: Lập giả thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố trong bài toán sử dụng ngôn ngữ toán học.
Từ đó thiết lập mô hình toán học tương ứng. * Giai đoạn 3: Áp dụng các phương pháp và công cụ toán học phù hợp để MHH bài toán và phân tích mô hình đó. * Giai đoạn 4: Thông báo kết quả, đối chiếu mô hình với thực tiễn và đưa ra kết luận. Quá trình giải quyết vấn đề (GQVĐ) và MHH có những đặc điểm tương tự nhau giúp rèn luyện cho HS những kĩ năng toán học cần thiết.
Do đó, chúng hỗ trợ và bổ sung cho nhau.