mở đầu âm tiết: - O viết trước các nguyên âm a, ă, e: toe, toét, khoăn, hoằn… - U viết trước các nguyên âm y, ya, yê, ê, â: khuya, huynh, huân, tuệ, huệ… 1. Vị trí, nhiệm vụ của dạy học Chính tả tiếng Việt 1.1 Vị trí của dạy học Chính tả Việc hình thành chuẩn về CT là một quá trình phức tạp và lâu dài. Bên cạnh những quy tắc CT đã tương đối ổn định về cách sử dụng thì vẫn còn tồn tại không ít những hiện tượng CT đang được chuẩn hóa trong quá trình phát triển ngôn ngữ. TV cũng ngày càng được củng cố và biến đổi để bắt kịp 19 những tiến bộ của thời đại.
Trong đó, vấn đề giữ gìn sự trong sáng của TV cần thiết phải được quan tâm. Phân môn CT trong nhà trường TH là phân môn giữ một ví trí quan trọng trong việc giữ gìn sự giàu đẹp và trong sáng của TV. Là một phân môn quan trọng trong sáu phân môn của môn TV, ở trường TH, phân môn CT được xếp dạy sau phân môn Tập đọc. Cùng với các phân môn khác, phân môn CT giúp người học hình thành kĩ năng sử dụng TV.
Trong đó, đặc biệt chú trọng đến kĩ năng viết và kĩ năng nghe. Đồng thời, cung cấp cho HS một số kiến thức về chữ viết như: Cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc CT, và thói quen viết chữ ghi TV đúng chuẩn… Viết đúng CT giúp HS làm chủ được tiếng nói có khả năng sử dụng TV vào trong các tình huống giao tiếp, học tập và tư duy đạt hiệu quả cao. Ngoài việc hình thành lòng yêu mến TV và thói quen giữ gìn sự trong sáng của TV, phân môn CT còn góp phần nâng cao trình độ văn hóa của người sử dụng TV. CT giúp HS có công cụ để rèn luyện một số thao tác của tư duy như: tư duy phân tích, tư duy tổng hợp, tư duy thay thế, tư duy bổ sung, tư duy so sánh, tư duy khái quát hóa,… là nền tảng để giao tiếp, tư duy trong học tập, góp phần nâng cao chất lượng lao động, sản xuất và chất lượng cuộc sống chung của toàn xã hội, trên hết là khả năng nhận thức chung của toàn xã hội về ngôn ngữ.
Nhiệm vụ của dạy học Chính tả Trong các giờ DH CT ở cấp TH, nhiệm vụ của phân môn là cung cấp cho HS các quy tắc CT và kết hợp rèn luyện viết đúng CT, viết chữ đúng mẫu, kĩ năng nghe viết chính xác cho HS, rèn luyện cách phát âm, củng cố nghĩa từ, trau dồi ngữ pháp. Ngoài các kĩ năng CT, phân môn còn trang bị cho HS kĩ năng sử dụng TV ở dạng chữ viết vào quá trình giao tiếp. Nhờ viết đúng CT mà HS có thể truyền đạt hết những nội dung mà HS muốn giao tiếp. 20 Viết đúng CT cũng như nắm vững các quy tắt CT đồng nghĩa với việc HS có khả năng làm chủ phương tiện ghi chép để phục vụ cho việc học tập các môn khác.
Phân môn CT giúp cho HS có thói quen hình thành lòng yêu quý TV và chữ viết TV. Bên cạnh đó, quá trình rèn luyện trong phân môn còn là con đường bồi dưỡng một số phẩm chất, đức tính và thái độ cần thiết cho HS như: tính cẩn thận, tính chính xác, tính kỉ luật, óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm. Đặc điểm nhận thức và tâm lí của học sinh lớp 2 dân tộc Khmer Mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng về tâm lí, đặc trưng văn hóa, ngôn ngữ,… và dân tộc Khmer cũng không lệ ngoại. Trẻ em ở lứa tuổi lớp 2, giai đoạn từ 6 đến 8 tuổi nói chung đều gặp khó khăn về mặt nhận thức khi đến trường.
Đa số HS chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập, dễ nhớ chóng quên, tiếp thu kiến thức chậm, chưa đi sâu khái quát mà chỉ dừng lại ở mức độ bên ngoài. Trần Thanh Pôn, Viện nghiên cứu giáo dục phía Nam nhận xét rằng: “HSDT Khmer khác với HS người Kinh, HSDT Khmer có đặc điểm tư duy ngầm” [27, tr. Trước mọi hoạt động, sinh hoạt hằng ngày, HSDT Khmer tiếp cận trước hết bằng lối tư duy thông qua nội cảm. Cần nhận thức một vấn đề đầu tiên HS cần cảm nhận bằng cảm xúc thông qua bình diện thông hiểu nội dung của tiếng nói, âm tiết, ngữ nghĩa dân tộc, hành văn dân tộc, cú pháp dân tộc tất cả đều biểu đạt bên trong suy nghĩ của HS.
Tiếp đến quy nạp vấn đề mang tính dân tộc cho đến khi cần diễn đạt thành lời nói để tiếp thu và trao đổi. Trẻ nhỏ rất hiếu động và rất ham tìm hiểu về cuốc sống và thế giới xung quanh, nhất là những gì mới lạ đối với HS. Đây là thứ mà hầu như đứa trẻ nào cũng cần. Thông qua các giác quan trên cơ thể mà HS có thể nâng cao sự hiểu biết về thế giới.
Và thông thường thì những sự vật, sự việc hay vật 21 thật sẽ giúp HS nhận thức tốt hơn. Theo hình thức này HS đã chụp đối tượng vào trí óc và dùng để suy ngẫm, tư duy ở một trạng thái cao hơn. HSDT Khmer rất mạnh mẽ về loại tư duy này, vì thế chúng ta nên tận dụng ưu điểm này để khắc phục sự nghèo nàn về vốn sống, vốn từ ngữ TV cho các em; giúp HS tư duy trừu tượng, trước mọi tình huống vấn đề người ta hay đưa mẫu vật cụ thể đặt trước mặt HS, hoặc tạo dáng, mô phỏng, vẽ tranh minh họa để HS nhận biết nhanh, gọn. Điều này thể hiện qua những chuyến thực tế HS rất dễ phân biệt những sự vật, sự việc mà HS đã được học.
HSDT Khmer thường bở ngỡ khi học TV, nhất là các lớp đầu cấp học. Đa số HS nghe được TV nhưng không hiểu được ý nghĩa lời nói, không hiểu điều thầy cô nói và từ đó HS không nắm được nhiệm vụ học tập. HSDT Khmer có thói quen dùng tiếng Khmer để giao tiếp với bạn bè cùng dân tộc, thậm chí khi các em trả lời với thầy/cô giáo cũng bằng tiếng Khmer do trình độ TV của các em còn kém. Trên lớp, các em không hiểu bài, dẫn đến tâm lí chán nản trong học tập.
Ở độ tuổi này, HSDT Khmer ngoài học TV còn phải học tiếng Khmer. Trong khi đó, cơ năng tâm sinh lí của các em còn quá hạn hẹp về cả năng lực, trí lực. Các em phải cùng lúc phải học hai ngôn ngữ trong khi chương trình giáo dục hiện nay của chúng ta nghiên về lí thuyết chưa có tính thực hành cao. HSDT Khmer thường mang tâm lí mặc cảm và thụ động.
Các em mặc cảm vì là dân tộc thiểu số. Và hay thụ động vì HSDT Kinh thường hay chê cười bạn vì phát âm không chính xác TV. Vì thế đa số HSDT Khmer thường nhút nhát, không tự tin khi học chung với bạn bè người Việt. Từ đó, dẫn đến khó khăn cho HSDT Khmer trong việc tương tác với GV trong quá trình học tập khi đứng trước những vấn đề khó.
Cơ sở thực tiễn của đề tài 1. Nội dung chương trình Chính tả tiếng Việt lớp 2 Chương trình phân môn CT TV ở lớp 2 được bố trí trong cả hai học kì với thời lượng là 62 bài và 62 tiết. Học kì 1 với thời lượng 32 tiết trong 16 tuần, có 14 tiết CT tập chép và 14 tiết CT nghe viết. Học kì 2 tổng số tiết là 30 tiết trong 15 tuần.
Trong đó, có 7 tiết CT tập - chép và 23 tiết CT nghe - viết. Trong tuần tiết CT thứ nhất sẽ sau tiết tập đọc thứ nhất và tiết kể chuyện, tiết CT thứ hai sẽ sau tiết tập đọc thứ hai. Các dạng bài tập - chép và nghe - viết được sắp xếp đan xen với nhau trong các tuần học. Do kĩ năng viết lớp 2 chưa vững nên chưa có hình thức bài tập nhớ - viết.
Nội dung chương trình CT TV lớp 2 chủ yếu cho HS thực hành qua các hình thức viết: CT đoạn - bài; CT âm - vần. Đối với dạng bài CT đoạn - bài HS được thực hành rèn luyện (nhìn viết hoặc nghe viết) mỗi bài trên dưới 50 tiếng, thông qua đó rèn kĩ năng viết CT, kĩ năng nghe cho HS. Còn riêng đối với CT âm - vần HS được luyện viết các tiếng (chữ) có âm, vần dễ viết sai do không nắm quy tắc chữ quốc ngữ (c/k, g/gh, ng/ngh, ia/ya, iê/yê,…) hoặc do ảnh hưởng cách phát âm phương ngữ (l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi). Bên cạnh vấn đề viết, HS còn được củng cố khả năng CT thông qua các dạng bài tập áp dụng chung cho toàn quốc và bài tập lựa chọn cho các vùng phương ngữ khác nhau.
Các dạng bài tập xoay quanh các nội dung luyện phát âm, gọi tên và ghi tên các đồ vật, sự vật, làm quen với các kiểu câu, loại câu thông dụng. Ngoài hai hình thức CT nói trên, phân môn CT lớp 2 còn một số bài tập nhằm giúp HS thuộc lòng bảng chữ cái và bước đầu biết áp dụng những hiểu biết về bảng chữ cái vào một số công việc phục vụ đời sống, học tập như: xếp tên người theo trật tự bảng chữ cái, lập danh sách HS… Về yêu cầu cần đạt của chương trình CT lớp 2 được chia làm ba giai đoạn. 23 - Giai đoạn 1: + Bước đầu viết đúng các chữ mở đầu bằng c/k, g/gh, ng/ngh. + Bước đầu viết đúng một số cặp từ dễ lẫn âm đầu (l/n, s/x, d/gi/r, tr/ch,…) vần (an/ang, ăn/ăng, ân/âng, ai/ay, uôn/uông,…), thanh (?/~) do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương.
+ Bước đầu biết viết hoa chữ cái mở đầu câu, viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam. + Nhìn - viết, nghe - viết bài CT có độ dài khoảng 50 chữ, tốc độ 35 chữ/15 phút, trình bày sạch sẽ, mắc không quá 5 lỗi. - Giai đoạn 2: + Viết đúng các chữ mở đầu bằng c/k, g/gh,ng/ngh. + Viết đúng một số cặp từ dễ lẫn âm đầu (l/n, s/x, d/gi/r, tr/ch,…) vần(ươn/ương, et/ec, ao/au,…), thanh (?/~, ~/.) do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương.
+ Bước đầu biết viết hoa chữ cái mở đầu câu, viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam. + Nhìn - viết, nghe - viết bài CT có độ dài khoảng 50 chữ, tốc độ 40 chữ/15 phút, trình bày sạch sẽ, mắc không quá 5 lỗi. - Giai đoạn 3: + Tiếp tục thực hành viết đúng các chữ mở đầu bằng c/k, g/gh,ng/ngh; Viết được một số chữ ghi tiếng có vần khó (uynh, uơ, uyu, oay, oăm,…). + Tiếp tục viết đúng một số cặp từ dễ lẫn âm đầu (l/n, s/x, d/gi/r, tr/ch, d/gi/r…) vần (iêt/iêc, uôt/uôc, ưc/ưt, ut/uc,…), thanh (?