CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về đầu tư, cơ sở hạ tầng 1. Khái niệm về đầu tư, cơ sở hạ tầng 1. Đầu tư Hoạt động đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó (Hồ Tú Linh, 2014).
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản mới cho nền kinh tế (tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ), gia tăng sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển (Hồ Tú Linh, 2014). Hoạt động sử dụng nguồn lực đầu tư cho CSHT cho nền kinh tế (như đường giao thông, hệ thống điện, nước, bưu chính viễn thông…) được gọi là đầu tư phát triển. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng thì nguồn lực đầu tư bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị, đất đai, tài nguyên.
Cơ sở hạ tầng Theo Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER): Cơ sở hạ tầng là tổng thể các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế, xã hội được diễn ra một cách bình thường. CSHT nông thôn: là một bộ phận của tổng thể CSHT vật chất kỹ thuật nền kinh tế quốc dân. Đó là những hệ thống thiết bị và công trình vật chất – kỹ thuật được tạo lập phân bố, phát triển trong các vùng nông thôn và trong các hệ thống sản xuất nông nghiệp, tạo thành cơ sở, điều kiện chung cho phát triển kinh tế, xã hội ở khu vực này và trong lĩnh vực nông nghiệp. SVTH: Đỗ Lê Diệu Vỹ 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Toàn Hệ thống CSHT nông thôn thường được phân chia thành hạ tầng kinh tế - kỹ thuật: hệ thống giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống cung cấp điện, cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc… và hạ tầng văn hóa – xã hội: các cơ sở giáo dục đào tạo, y tế, công trình văn hóa và phúc lợi xã hội khác.
Vai trò của cơ sở hạ tầng nông thôn đến phát triển kinh tế - xã hội CSHT nông thôn tốt sẽ tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào thị trường nông nghiệp, nông thôn; là nhân tố thu hút các lực lượng lao động; khi CSHT thuận lợi sẽ rút ngắn thời gian, các khâu trung gian, chi phí sản xuất giảm, từ đó giảm giá thành sản phẩm và thị trường nông thôn được mở rộng. CSHT nông thôn phát triển sẽ tác động đến việc phân bổ lại lực lượng sản xuất theo lãnh thổ; tạo điều kiện phát phát triển đồng đều giữa các vùng trên cả nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với đảm bảo ổn định công bằng xã hội. Thực hiện công bằng xã hội không chỉ thể hiện ở khâu phân phối kết quả mà còn thể hiện ở chỗ sử dụng tốt năng lực của mình, cơ hội được tham gia học tập, chăm lo sức khỏe, cơ hội được làm việc và tham gia vào quá trình sản xuất. Điều kiện sống của người dân trên địa bàn sẽ tốt hơn khi CSHT nông thôn phát triển, đời sống của người dân được nâng cao, tạo động lực cho người dân phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, giảm nhu cầu tìm việc ở thành thị và giảm bớt gánh nặng cho khu vực thành thị.
Tóm lại, CSHT nông phát triển sẽ là khâu then chốt để thực hiện hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội nói chung và thực hiện phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng. CSHT phải đi trước một bước để tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, các vùng phát triển. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc đầu tư CSHT, có thể kể đến một số nhân tố chủ yếu đó là: Quy hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Công tác quy hoạch là nhiệm vụ mang tính tiền đề, định hướng quan trọng trong việc xây dựng CSHT, điều đó đòi hỏi việc khảo sát, điều tra cơ bản, tính toán SVTH: Đỗ Lê Diệu Vỹ 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Toàn và dự báo, thu thập thông tin phục vụ công tác quy hoạch phải đầy đủ, khoa học, có định hướng đúng và có tầm nhìn, phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội. Nếu làm tốt công tác quy hoạch sẽ giúp hoạch định được nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài, sử dụng không gian trên địa bàn xã một cách toàn diện, định hướng đầu tư có hiệu quả cao, bền vững.
Ngược lại nếu quy hoạch không có tính khoa học, không dự báo tốt sự phát triển KT-XH trong tương lai và không phù hợp với quy hoạch ngành và quy hoạch vùng…sẽ dẫn tới đầu tư kém hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng CSHT. Công tác quản lý đầu tư Việc đầu tư xây dựng CSHT bao gồm nhiều giai đoạn xuyên suốt quá trình đầu tư, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc xây dựng, bàn giao đưa vào khai thác sử dụng. Do đó công tác quản lý đầu tư là một hoạt động phức tạp và chất lượng công tác quản lý ở mỗi giai đoạn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác, tuổi thọ công trình. Trong đó giai đoạn chuẩn bị đầu tư là quan trọng nhất vì đây là giai đoạn tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau, đặc biệt là đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư; tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5 – 10% vốn đầu tư của dự án, làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt 90 -99,5% vốn đầu tư của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư (đúng tiến độ, không phải phá đi làm lại, tránh được những chi phí không cần thiết khác…).
Nguồn vốn đầu tư Vốn là điều kiện cần cho mọi quá trình phát triển KT-XH, đặc biệt quan trọng trong đầu tư xây dựng CSHT. Nguồn vốn là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện và chất lượng công trình. Nếu nguồn vốn không được bố trí kịp thời hoặc giải ngân chậm sẽ dẫn đến việc triển khai thi công không đúng tiến độ, chất lượng không đảm bảo. Tài nguyên đất Đất đai là địa điểm để xây dựng các công trình CSHT, vì vậy đất đai có tác động trực tiếp đến đầu tư xây dựng CSHT.
Đất ở mỗi vùng đều có cấu tạo khác nhau, có thể bị hạn chế của đồi núi, sông ngòi, di tích văn hóa lịch sử…các yếu tố SVTH: Đỗ Lê Diệu Vỹ 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Toàn này không thể khắc phục hoặc có thể phải bỏ ra một chi phí lớn để cải tạo, san lấp. Bên cạnh đó đất đai đều thuộc quyền sở hữu khác nhau nên cũng sẽ ảnh hưởng đến việc huy động quỹ đất để xây dựng, mở rộng và phát triển. Tiến bộ khoa học công nghệ Nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ (như phương tiện vận chuyển hiện đại, thông tin liên lạc phát triển cao…) có thể làm các yếu tố về thời gian và không gian được rút ngắn lại. Văn hóa – xã hội Đặc điểm văn hóa – xã hội cùng với mức độ dân trí cũng ảnh hưởng đến tính khả thi của công trình thông qua sự đóng góp, hưởng ứng của người dân địa phương.
Và ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian hoạt động của công trình thông qua ý thức giữ gìn và bảo vệ của người dân. Khí hậu, thủy văn Đối với các dự án xây dựng, các hiện tượng như lũ lụt, bão, mưa gió…sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của CSHT, sẽ làm phá vỡ, xuống cấp, giảm tuổi thọ của công trình. Nếu đang trong quá trình thi công sẽ làm gián đoạn, kéo dài thời gian hoàn thành các công trình. Cơ sở lý luận về nông thôn mới 1.
Khái niệm nông thôn, nông thôn mới 1. Khái niệm nông thôn Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn do sự khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên ở các quốc gia. Theo giáo trình phát triển nông thôn, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, trang 11, 2005 định nghĩa: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”.
Theo Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 4/10/2013 của BNN&PTNT được hiểu là: “Nông thôn là vùng lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã”. Hay theo Nguyễn Mậu Thái (2015): “Nông thôn là vùng sinh SVTH: Đỗ Lê Diệu Vỹ 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Toàn sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân với sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn”. Từ những khái niệm trên có thể đưa ra một số đặc trưng cơ bản của nông thôn đó là: - Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là cơ bản, ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất và phi sản xuất khác phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho nông dân. - So với thành thị thì nông thôn có CSHT kém phát triển hơn, trình độ sản xuất hàng hóa và tiếp cận thị trường thấp hơn.
Vì vậy dân cư nông thôn thường hay đổ xô về thành thị để tìm kiếm việc làm và cơ hội sống tốt hơn. - Nông thôn có thu nhập và đời sống kinh tế, trình độ văn hóa, khoa học công nghệ thấp hơn thành thị và cả trình độ dân chủ, tự do, công bằng xã hội trong một chừng mực nào đó cũng thấp hơn. - Nông thôn giàu tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước…nhưng rất đa dạng về kinh tế, xã hội, các hình thức tổ chức quản lý, quy mô và trình độ phát triển.