Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành Du lịch. Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành Du lịch Việt Nam những năm qua Chương 3: Một số giải pháp nhằm thu hút hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành Du lịch Việt Nam.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG NGÀNH DU LỊCH 1. Cơ sở lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong ngành Du lịch 1. Tổng quan chung về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
Khái niệm Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư. Đầu tư được phân thành 2 loại là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là hình thức nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lý hoạt động đầu tư còn đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua các cổ phần, cổ phiếu, các giấy tờ có giá vv… Như vậy, hai hình thức đầu tư này được phân biệt bởi việc nhà đầu tư có hay không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là một trong những hình thức đầu tư không thể thiếu tại các quốc gia đang phát triển nhằm thu hút vốn cho quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật và quan hệ sản xuất.
Đã có nhiều định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài, cụ thể: Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng “FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trưc tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp FDI trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận FDI.” Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) định nghĩa : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"” 7 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam Tại Việt Nam, định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài được bắt đầu được xây dựng và đưa vào “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” năm 1987, một năm sau khi Việt Nam thực hiện đường lối Đổi mới do đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 đề ra. Sau nhiều lần sửa đổi, đến nay, Luật đầu tư nước ngoài được thay thế bằng Luật đầu tư chung (2005). Theo khoản 2 và khoản 12, điều 3, có thể định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mà bên nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư trực tiếp có thể nhằm khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên hay tham gia vào các khu vực sản xuất, tài chính, thương mại hay dịch vụ… Các nguồn vốn đầu tư trực tiếp không chỉ bao gồm ở lĩnh vực tư nhân mà còn cả đồng tài trợ giữa cơ quan tư nhân với Nhà nước.
Ngoài ra Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được thực hiện xuất phát từ sự phù hợp về lợi ích của các bên tham gia. Mỗi lĩnh vực và mỗi dự án đầu tư đều chứa đựng những mong muốn nhất định của bên tiếp nhận và bên đầu tư. Thường thì bên tiếp nhận đầu tư luôn có những kỳ vọng về vấn đề việc làm, thu hút vốn hoặc công nghệ, còn bên đầu tư thì lại có những kỳ vọng về vấn đề nguyên liệu, thị trường hoặc giảm chi phí kinh doanh… Khi các bên tham gia tạm thời hài lòng với những mong muốn của mình thì một dự án đầu tư có thể được thực hiện. Đối với các nhà đầu tư, do yêu cầu mở rộng kinh doanh, nâng cao hiệu quả và giành lợi thế trong cạnh tranh, thị trường trong nước ngày càng trở nên chật hẹp.
Mặt khác, cạnh tranh trong nước ngày càng trở nên gay gắt cho nên việc mở rộng kinh doanh ra bên ngoài vừa là đòi hỏi cấp thiết tự thân, vừa là điều kiện sống còn của họ. Đối với các nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển, việc thu hút FDI được coi như là một động lực quan trọng giúp nền kinh tế trở nên năng động, có hiệu quả, tạo đà cần thiết để vượt qua sự nghèo đói. Tuy nhiên, do mục đích của các nhà đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu tư không phải luôn luôn trùng hợp, vì vậy chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư 8 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam luôn tìm các biện pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trong nước mình đồng thời với việc nhấn mạnh sự phát triển quốc gia theo hướng độc lập, tự chủ. Còn các nhà đầu tư thường tìm giải pháp để tăng khả năng cạnh tranh của chúng trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế toàn cầu, vì vậy, vai trò của các biện pháp, chính sách đặc biệt quan trọng đề nhằm điều hòa lợi ích giữa các bên.
Đặc điểm Cũng như các hoạt động đầu tư khác, FDI cũng có những đặc điểm của hoạt động đầu tư nói chung, đó là tính sinh lãi và rủi ro của hoạt động đầu tư. Hai đặc điểm này là căn cứ chủ yếu để phân biệt một hoạt động có phải là hoạt động đầu tư hay không. Mục đích của các nhà đầu tư là thu lợi nhuận. Vì vậy, không phải bất kỳ một hoạt động nào có sử dụng tiền bạc, thời gian và sức lực vào thực hiện một mục tiêu nào đó cũng đều được gọi là đầu tư.
Chỉ khi nào những hoạt động có sử dụng các chi phí đó được thực hiện để thu lợi nhuận thì mới được gọi là đầu tư. Ngoài những đặc điểm của hoạt động đầu tư nói chung, FDI còn có những đặc điểm đặc thù, thể hiện: Nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư nước ngoài phải là người có quốc tịch nước ngoài. Đặc điểm này có liên quan đến vấn đề về quốc tịch, luật pháp, ngôn ngữ, phong tục tập quán. Đây là các yếu tố làm tăng tính chi phí và rủi ro đầu tư của các dự án FDI.
Tỷ lệ góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định của dự án đạt mức tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước quy định. Vốn đầu tư được tính bằng ngoại tệ, do vậy đặc điểm này có liên quan đến vấn đề chính sách tài chính – tiền tệ các nước tiếp nhận đầu tư và tỷ giá hối đoái. Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án mà họ bỏ vốn đầu tư. Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư trong vốn pháp định của dự án.
Nếu doanh nghiệp 100% vốn trong vốn pháp định thì doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và 9 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam cũng do họ quản lý toàn bộ. Đặc điểm này là căn cứ phân biệt hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài với các hoạt động đầu tư khác. Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chia cho các bên theo tỷ lệ góp vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần (nếu có). FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau.
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 [13] và Luật Đầu tư năm 2005 [15], các nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn các hình thức đầu tư trực tiếp sau đây: * Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, bao gồm: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài (WFOE) và thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài (EFV). WFOE là hình thức nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn để thành lập và điều hành các cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước ngoài và hình thành một pháp nhân mới. Nhà đầu tư trực tiếp nắm quyền điều hành và quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ pháp luật nước sở tại. Nước nhận đầu tư cho phép doanh nghiệp thuê đất, thuê nhân công, đào tạo cán bộ quản lý, kỹ thuật và tay nghề cho nhân công , toàn quyền điều hành xí nghiệp.
Mối quan hệ giữa công ty mẹ và doanh nghiệp ở nước ngoài về cơ bản được thể hiện: Vốn của doanh nghiệp ở nước ngoài được công ty mẹ đảm bảo. Lợi nhuận của công ty con có thể để lại một phần, một phần được chuyển về công ty mẹ để thanh toán lợi tức. Ngoài ra, công ty mẹ còn nhận các khoản thanh toán về bán thành phẩm, nguyên liệu và thành phẩm do công ty mẹ cung cấp. EFV là một pháp nhân độc lập được hình thành trên cơ sở vốn góp của một bên trong nước và một bên nước ngoài.
EFV có thể tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài có thể bị giới hạn ở một mức nhất định tùy theo quy định của nước tiếp nhận đối với từng lĩnh vực đầu tư. Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, 10 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và chính phủ nước ngoài hoặc là do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.