Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC Ở CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến thu hút FDI ở Việt Nam và một số quốc gia lân cận Đầu tư nước ngoài là một bộ phận nguồn lực quan trọng cho hoạt động sản xuất và tăng trưởng kinh tế. Bởi vậy, từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách quan tâm đến vấn đề này.
Một số công trình tiêu biểu bao gồm: Ngô Công Thành (2005), Định hướng phát triển các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam [34]. Để đạt được mục đích Luận án phân tích một số nội dung là: Làm sáng tỏ các khái niệm về FDI và hình thức FDI; các hình thức FDI và đặc điểm của chúng. Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển của các hình thức FDI tại Việt Nam từ 1988 đến nay, xu hướng vận động của các hình thức này; Tống Quốc Đạt (2005), Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế ở Việt Nam [8]. Trong đó, tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về FDI và cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế; hệ thống những thay đổi về cơ chế, chính sách của Việt Nam trong từng thời kỳ từ khi ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài (1987) đến nay nhằm thu hút FDI theo ngành kinh tế; đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua.
Trên cơ sở đó, luận án đưa ra một số quan điểm, định hướng về việc thu hút FDI hướng tới việc điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế thông qua việc khẳng định vai trò của FDI với tư cách là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân và những giải pháp chủ yếu định hướng thu hút FDI theo ngành kinh tế để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong giai đoạn tới. Trần Quang Lâm, An Như Hải (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở 5 Việt Nam [20]. Cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống, khoa học về cơ sở lý luận và thực tiễn kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, nhìn lại chặng đường gần 20 năm đổi mới mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài (1988-2005) và phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam đã có những bước tiến triển mạnh mẽ và trên thực tế, khu vực FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (đồng chủ biên) (2006), Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam [3].
Xuất phát từ mục đích phải làm rõ thực chất, đặc điểm, hậu quả hay rủi ro của của những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, công trình nghiên cứu này đã tiến hành hệ thống hoá những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài, chỉ ra những thành công và hạn chế có thể mà nguồn vốn này chúng ta được coi là nguyên nhân trực tiếp gây ra những rủi ro đối với doanh nghiệp và hoạt động quản lý của nước tiếp nhận, làm giảm đi phần nào những tác động tích cực của nguồn vốn này. Đồng thời công trình cũng đã tiến hành phân tích những vấn đề kinh tế xã hội chủ yếu trên thực tế đã nảy sinh ở Trung Quốc kể từ khi mở cửa và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để phục vụ cho công cuộc cải cách của Trung Quốc và tiến hành tổng kết kinh nghiệm xử lý những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc thời gian qua. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam. Nhờ có động lực thúc đẩy mạnh mẽ là đầu tư nước ngoài, nhiều ngành công nghiệp quan trọng được hình thành, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng tích cực hơn.
Tuy nhiên, quá trình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và hoạt động quản lý quá trình này có tính hai mặt, bên cạnh những tác động tích cực, thời gian qua quá trình này cũng phát sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần phải giải quyết nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả của nguồn vốn này. 6 Bên cạnh đó, công trình cũng đã tiến hành đánh giá những tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và thông qua việc xem xét tiến trình và động thái thu hút vố đó; thực hiện việc khảo sát, phân tích và đánh giá những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, luận giải cụ thể nguyên nhân của những vấn đề này trong điều kiện đặc thù Việt Nam cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Công trình cũng đã cho thấy mặc dù có những tác động tích cực, song nguồn vốn FDI cũng đã gây ra những vấn đề phức tạp về kinh tế - xã hội. Điều cần thiết trước mắt là phải nhận thức đầy đủ tác động những vấn đề này để có quan điểm và giải pháp xử lý thích hợp.
Trương Thái Phiên (2000), Chiến lược đổi mới chính sách huy động các nguồn vốn nước ngoài phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001- 2010 [28]. Trong đề tài này tác giả đã đưa ra các giải pháp chủ yếu thu hút vốn FDI như: Đổi mới cơ cấu FDI nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch đối với FDI, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách quản lý nhằm cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, mở rộng hợp tác đầu tư nước ngoài theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, đẩy mạnh thủ tục cải cách hành chính, cải tiến công tác tổ chức bộ máy quản lý, phân cấp và cơ chế thu hút, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thúc đẩy hoạt động hỗ trợ, xúc tiến FDI, tăng cường công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong nước phục vụ hiệu quả hoạt động FDI. Trần Thị Minh Châu (2007), Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam [7]. Đầu tư phát triển là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế quốc gia cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Song, trong thực tế, không phải bao giờ một quốc gia cũng đạt được mức độ đầu tư phát triển mong muốn, bởi vì, đầu tư phát triển là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Để quyết định bỏ vốn vào sản xuất, nhà đầu tư phải bảo đảm về độ an toàn thu hồi vốn, phải được hấp dẫn bởi triển vọng kiếm được lợi nhuận hợp lý, phải được cung cấp những điều kiện tối thiểu về nguồn lực và tính tổ chức của thị trường. Những đòi hỏi đó, đôi khi thị trường tự do không cung cấp đủ, nên Nhà nước phải vào cuộc 7 bằng cách hoạch định và thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư. Ngày nay, ở mọi quốc gia, chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước là một trong những chính sách cơ bản, quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế của Nhà nước.
Việt Nam về cơ bản, đã chuyển sang nền kinh tế thị trường và đang trong giai đoạn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu rộng và mạnh mẽ nên chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước càng có vai trò quan trọng đặc biệt. Trong những năm gần đây, với việc thực thi các hoạt động tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính về sử dụng đất đai, về thuế, về đào tạo. Nhà nước đã thu hút được số lượng vốn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Kết quả là, trong suốt hai mươi năm đổi mới, tổng đầu tư xã hội đều tăng, năm sau cao hơn năm trước.
Số vốn tăng thêm này đã góp phần làm cho nước ta giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tạo thêm nhiều việc làm mới và cải thiện chất lượng sống của dân cư. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, Việt Nam vẫn còn bỏ phí nhiều nguồn lực, chưa thu hút đủ mức cả vốn trong nước lẫn vốn nước ngoài vào phát triển kinh tế. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân Nhà nước chưa làm tốt chính sách khuyến khích đầu tư. Đề tài tập trung trình bày ba nội dung cơ bản: làm rõ cơ sở lý luận của chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phân tích, đánh giá thực trạng chính sách khuyến khích của Nhà nước ta hiện nay; đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước ta trong thời gian tới.
Nguyễn Duy Quang (2007), Đầu tư trực tiếp của Liên minh Châu âu vào Việt Nam [30]. Trong đó, tác giả đã phân tích quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên minh Châu Âu (Viết tắt là EU) vào Việt Nam trên góc độ quan hệ đa phương và quan hệ song phương giữa các thành viên EU với Việt Nam, nhất là các thành viên chủ chốt, có ảnh hưởng lớn đến đầu tư trực tiếp nước ngoài của EU tại Việt Nam. 8 Hoạt động đầu tư vốn FDI của EU và các nước thành viên vào Việt Nam từ năm 1998 đến năm 2005. Qua đó, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng và kết quả, hạn chế, nguyên nhân, từ đó đề xuất phương hướng, các giải pháp tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam.