Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh và kinh nghiệm thực tiễn - Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2018 - Chương 3: Định hƣớng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Kết luận chung Luan van 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN 1. Giảm nghèo bền vững 1. Nghèo 1 Trên thế giới Cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chƣa hề có sự thay đổi, mặc dù chƣa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện đang đƣợc các quốc gia thừa nhận. Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không đƣợc đi học, không đƣợc đi khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không đƣợc tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không đƣợc tiếp cận nƣớc sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, đƣợc lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua). Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy đƣợc xã hội thừa nhận”.
Khái niệm nghèo đói này bao gồm 03 khía cạnh: - Nhu cầu cơ bản của con ngƣời bao gồm: Ăn ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. Luan van 8 - Nghèo thay đổi theo thời gian: Thƣớc đo nghèo khổ sẽ thay đổi theo thời gian; khi kinh tế càng phát triển thì nhu cầu cơ bản của con ngƣời cũng sẽ thay đổi theo xu hƣớng ngày một cao hơn. - Nghèo thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này cũng chỉ cho chúng ta thấy sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả nƣớc, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố văn hoá của từng quốc gia, từng vùng. Ngoài ra, còn có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghèo.
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á: “Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng. Mọi người cần được tiếp cận với giáo dục cơ sở và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản. Các hộ nghèo có quyền duy trì cuộc sống bằng chính lao động của họ và được trả công một cách hợp lý, cũng như được sự bảo trợ khi có biến động bên ngoài”. Ngày nay, vấn đề nghèo cần phải đƣợc xem xét và nhìn nhận theo nhiều góc độ khác nhau.
Khái niệm “nghèo đa chiều” đã ra đời trong đó xác định rõ nghèo đói không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống, hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác mà nghèo đói còn đƣợc gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các nguồn lực, thông tin và dịch vụ. Nhƣ vậy sự nghèo khó không chỉ đơn thuần là nghèo về lƣơng thực, thiếu các điều kiện sinh hoạt mà nó bao gồm các yếu tố kìm hãm cá thể đó không tiếp cận đƣợc đến các nguồn lực hoặc không biết và không thể tìm ra các giải pháp cho bản thân để thoát ra khỏi tình trạng hiện có. Do vậy, đề giải quyết vấn đề giảm nghèo, không chỉ dừng lại ở việc cung cấp lƣơng thực, thực phẩm, tạo việc làm cho ngƣời lao động mà còn phải tạo cơ hội cho ngƣời nghèo tiếp cận các dịch vụ cơ bản nhƣ giáo dục, y tế, các nguồn vốn để phát triển sản xuất và đặc biệt là tạo cho ngƣời nghèo các cơ hội để có thể tự vƣơn lên thoát nghèo một cách bền vững. Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả cho rằng nghèo là một hiện tƣợng đa chiều, tình trạng nghèo cần đƣợc nhìn nhận là sự thiếu hụt/không đƣợc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con ngƣời.
Tại Việt Nam Luan van 9 Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống ngang bằng với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện. Trong hoàn cảnh nghèo thì ngƣời nghèo cũng chỉ vật lộn với những mƣu sinh hàng ngày và kinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp ở bữa ăn. Họ không thể vƣơn tới các nhu cầu về văn hóa, tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm ở mức tối đa, gần nhƣ không có. Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của ngƣời dân chỉ dành hầu nhƣ toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu nhƣ không có.
Nhìn chung, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có những điều kiện về cuộc sống nhƣ ăn, mặc, ở, giáo dục, quyền tham gia vào các quyết định của cộng đồng… Nghèo thƣờng đƣợc phản ánh dƣới ba khía cạnh: (1) Không đƣợc thụ hƣởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con ngƣời. (2) Mức sống thấp dƣới mức trung bình của cộng đồng dân cƣ nơi cƣ trú. (3) Không đƣợc hƣởng cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng. Mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói nhƣng tôi đồng ý với quan niệm về đói nghèo do Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội đƣa ra và đây cũng là quan niệm tôi chọn làm công cụ cho bài luận văn.
Theo đó, nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Ở Việt Nam thì nghèo đƣợc chia thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tƣơng đối, nghèo đa chiều. - Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ thuộc diện nghèo không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại… - Nghèo tƣơng đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ thuộc diện nghèo có mức sống dƣới mức sống trung bình của cộng dồng và địa phƣơng đang xét. - Nghèo đa chiều: Có thể đƣợc hiểu là tình trạng con ngƣời không đƣợc đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Luan van 10 Nhƣ vậy, do cách tiếp cận về nghèo khác nhau cho nên có sự lý giải về các quan niệm này cũng khác nhau. Hơn nữa nghèo là một phạm trù lịch sử mang tính tƣơng đối do vậy nó cũng đƣợc biến đổi theo thời gian, không gian và sự vận động của nền kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo và QLNN về GNBV a. Quản lý nhà nước - Năng lực bộ máy quản lý nhà nƣớc về giảm nghèo Đây là nhân tố tác động mang tính quyết định đến mức độ giảm nghèo, nhƣng thƣờng chƣa đƣợc xác định đúng mức.
Xét trên toàn cảnh, tác động của nhân tố tổ chức, quản lý của các cấp đến giảm nghèo có mức độ khác nhau, ở những thời gian khác nhau, đƣợc thể hiện tập trung ở mấy mặt sau đây: Thứ nhất, tính chất và mức độ "hành chính quan liêu" trong các cấp đã ảnh hƣởng đến giải quyết vấn đề đói nghèo, thực hiện những chủ trƣơng, chính sách xóa đói, giảm nghèo trong thời gian qua biểu hiện ở các hoạt động: + Cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi rất chậm trễ, làm diện đói nghèo kéo dài và lan rộng. + Việc xác định diện hộ nghèo theo quy định có những lệch lạc, dựa vào quan hệ thân quen đƣa vào diện nghèo những hộ không nằm trong tiêu chí nghèo, thậm chí bớt xén tiền bạc mà đáng lẽ hộ nghèo đƣợc hƣởng. Những sai phạm này thƣờng ở cấp chính quyền cơ sở và huyện. + Chất lƣợng xây dựng các luật kinh tế, xã hội còn thấp so với thực tiễn, nên "dễ thông qua nhƣng khó thi hành" ở cấp vĩ mô.
Quy trình làm luật hiện nay chỉ coi trọng mặt chính sách, giải trình nội dung chính sách hay luật mà không đòi hỏi giải trình về mặt kỹ thuật tổ chức thực hiện, nhất là về mặt thanh tra, kiểm soát. Vì vậy đã có những trƣờng hợp bất khả thi, hoặc dễ "lách luật" và lạm dụng. Đây là hạn chế của cấp vĩ mô. Thứ hai, tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình triển khai các dự án kinh tế - xã hội, do chất lƣợng thấp trong xây dựng và thực hiện dự án, nên các dự án không có khả năng hoàn vốn, rủi ro cao, thời gian thực hiện kéo dài.
Luan van 11 Tính chất hành chính quan liêu trong quản lý vĩ mô gây lãng phí ở tầm quốc gia còn do nôn nóng muốn làm tất cả, không có ƣu tiên và bƣớc đi phù hợp. Cách làm nặng về số lƣợng (ngƣời ta nói do bệnh thành tích theo tƣ duy nhiệm kỳ) không chỉ gây lãng phí lớn, mà còn để lại nhiều vấn nạn cả về kinh tế và xã hội. Thứ ba, tình trạng tham nhũng tác động không chỉ đến chất lƣợng và hiệu quả phát triển, mà còn trực tiếp đến đời sống nhân dân. Hiện tƣợng tham nhũng xuất hiện cả trong lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực y tế, thậm chí cả trong dự án xóa đói, giảm nghèo, cùng với những tác động tiêu cực của các dự án xây dựng, nhất là các dự án sử dụng nhiều đất đai, làm cho vấn đề đói nghèo và ổn định xã hội khó giải quyết.
Nguy cơ và hậu quả nghiêm trọng của tệ nạn tham nhũng là những ngƣời này đang trở thành lực lƣợng "nội xâm", coi thƣờng luật pháp và vô trách nhiệm.