Chương 1 : Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2 : Cơ sở lý luận chung về đầu tư phát triển du lịch địa phương Chương 3 : Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 – 2011 Chương 4 : Giải pháp đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển du lịch Nghệ An trong đến năm 2020. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG 2. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 2. Khái niêm đầu tư phát triển du lịch Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả , thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự gia tang tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội. Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc dùng vốn hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản mới, năng lực sản xuất mới, vì mục tiêu phát triển Đầu tư phát triển là một phương thức đầu tư của đầu tư trực tiếp, hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội. Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ.
Đầu tư phát triển là tiền đề, là cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác. Các hình thức đầu tư gián tiếp, dịch chuyển không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển. Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia. Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên 8 của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ. Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật, … Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doah mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ. Như vậy, đầu tư phát triển du lịch là việc chi tiêu tiền bạc và vật chất tạo nên những tiền đề cần thiết để thực hiện các kế hoạch kinh doanh trong chiến lược phát triển lâu dài ngành du lịch của một địa phương, một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm đem lại lợi ích về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội phù hợp với chiến lược phát triển chung của nền kinh tế.
Mục đích của đầu tư phát triển du lịch là nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đầu tư không chỉ thuần túy là việc tạo dựng từ đầu, mà còn thường xuyên duy tu, bảo dưỡng, cải tạo và nâng cấp những yếu tố đã có sẵn hoặc được đầu tư từ trước, tạo ra các hoạt động mới bổ trợ nhằm phát triển du lịch như hoạt động thể thao. Ngoài ra, đầu tư còn giúp tăng cường hơn nữa việc tiêu thụ các sản phẩm này nhằm khai thác chúng một cách hiệu quả hơn. Đầu tư là công việc phải tiến hành một cách thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Đầu tư phát triển du lịch là một hình thức của đầu tư trực tiếp.
Trong đó, người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành 9 các kết quả đầu tư. Loại đầu tư này tạo nên những năng lực sản xuất phục vụ mới, góp phần tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Hình thức đầu tư này đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tế của tỉnh và quốc gia. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010 đã nhấn mạnh việc ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở tiện nghi và dịch vụ du lịch trên toàn lãnh thổ "kết hợp đầu tư nâng cấp các điểm tham quan du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch với đầu tư cho tuyên truyền, quảng bá và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn mang tính đặc thù cho từng vùng du lịch và cả nước.5] Việc đầu tư phát triển du lịch về thực chất không những nhằm tạo tiền đề vật chất hiện đại và đồng bộ duy trì và phát triển một đội ngũ nhân sự giỏi mà còn nhằm tái tạo tiềm năng và tài nguyên du lịch, góp phần vào sự phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch làm thỏa mãn tối đa cho du khách tham quan.
Đặc điểm của đầu tư phát triển du lịch của địa phương Đầu tư phát triển du lịch là một phần không thể thiếu trong đầu tư phát triển của mỗi địa phương có danh lam thắng cảnh, có di tích lịch sử… nó mang lại lợi ích không nhỏ cho địa phương, góp phần xây dựng địa phương giàu đẹp hơn. Đầu tư phát triển du lịch là một bộ phận của đầu tư phát triển do vậy đầu tư phát triển du lịch mang đầy đủ các đặc điểm của đầu tư phát triển nói chung. Thứ nhất, Đầu tư phát triển du lịch đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên.Vì khối lượng vốn đầu tư lớn nên đòi hỏi phải có kế hoạch huy động vốn cụ thể, chính xác trước khi thực hiện các dự án đầu tư. Tránh trường hợp trong quá trình thực hiện, dự án bị thiếu vốn, bị đình trệ.
Đầu tư phát triển du lịch khác so với các hoạt động đầu tư khác. Khi dự án bị ngưng trệ sẽ ảnh hưởng đến cảnh quan, thẩm mỹ khu du lịch. Về nguồn vốn đầu tư. Đầu tư phát triển du lịch là quyền của nhà đầu tư nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm của chính quyền tỉnh, thành phố nơi có các tiềm năng du lịch, một mặt để phát triển du lịch, mặt khác cũng là bảo tồn, giữ gìn các tiềm năng du lịch đó.
Do đó, nguồn vốn đầu tư khá phong phú và đa 10 dạng. Nguồn vốn đầu tư được huy động từ mọi nguồn trong xã hội như ngân sách nhà nước, vốn tự có của doanh nghiệp kinh doanh, của các tổ chức tín dụng, của chính những cá thể có ý muốn đầu tư và những nguồn khác.Vốn đầu tư phát triển du lịch không được quay vòng liên tục như đầu tư tài chính mà nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư. Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia. Khi dự án đầu tư kéo dài, chủ đầu tư phải tính đến "độ trễ thời gian" và các vấn đề về lạm phát để đảm bảo đáp ứng đủ khối lượng vốn đầu tư thực hiện dự án.
Về nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển du lịch, tùy vào đối tượng đầu tư phát triển du lịch mà đầu tư phát triển du lịch có quy mô đầu tư lớn hay nhỏ. Nếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng như bến xe, bến cảng du lịch, du thuyền, villa, khách sạn cao cấp. thì đầu tư phát triển du lịch cần khối lượng vốn đầu tư, vật tư, nguồn lao động lớn. Vì khối lượng vốn đầu tư lớn nên đòi hỏi phải có kế hoạch huy động vốn cụ thể, chính xác trước khi thực hiện các dự án đầu tư.
Tránh trường hợp trong quá trình thực hiện, dự án bị thiếu vốn, bị đình trệ. Đầu tư phát triển du lịch khác so với các hoạt động đầu tư khác. Khi dự án bị ngưng trệ sẽ ảnh hưởng đến cảnh quan, thẩm mỹ khu du lịch. Nếu đầu tư vào các điểm nghỉ dừng chân, các quán lưu niệm.
thì quy mô đầu tư nhỏ. Về địa điểm đầu tư, du lịch là một ngành kinh tế gắn liền với điều kiện tự nhiên, gắn với các di tích, cảnh quan thiên nhiên. Một quốc gia, một địa phương dù có nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phát triển cao, song nếu không có các tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triển được du lịch. Trên thực tế, du lịch chỉ phát triển ở những nơi được thiên nhiên ưu đãi cho những kỳ quan hoặc những nơi lịch sử đã để lại những di tích.
Tiềm năng về kinh tế là vô hạn, song tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn là hữu hạn, nhất là đối với tài nguyên thiên nhiên. Do đó, không phải người đầu tư muốn đầu tư ở đâu cũng được và muốn đầu tư vào đâu cũng được. Vì vậy, địa điểm đầu tư cần phải nằm trong khu vực phát triển du lịch hoặc địa điểm đầu tư không được quá xa những di tích, những thắng cảnh đẹp đó. Sự kết hợp hài hòa giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật 11 giúp cho cơ sở phục vụ du lịch hoạt động có hiệu quả, kéo dài thời gian sử dụng của chúng trong năm.