Đấu tranh phòng chống tội phá huỷ công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia tại thành phố hồ chí minh

Đấu tranh phòng chống tội phá huỷ công trình quan trọng về an ninh quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh, bảo vệ an toàn và phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2009

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu

1.3. Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi của đề tài

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn. Cơ cấu của đề tài

2. CHƯƠNG I: TỘI PHÁ HUỶ CÔNG TRÌNH, PHƯƠNG TIỆN QUAN TRỌNG VỀ AN NINH QUỐC GIA THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 VÀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia dưới góc độ pháp lý hình sự

2.2. Khái niệm về tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia theo Bộ luật Hình sự 1999

2.3. Những đặc trưng pháp lý hình sự của tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia

2.4. Tình hình tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây

2.4.1. Các thông số về thực trạng, diễn biến, cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia

2.4.2. Đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh

3. CHƯƠNG II: NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHÁ HUỶ CÔNG TRÌNH, PHƯƠNG TIỆN QUAN TRỌNG VỀ AN NINH QUỐC GIA

3.1. Nguyên nhân và điều kiện chung của tình hình tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia

3.2. Nguyên nhân và điều kiện kinh tế – xã hội

3.3. Nguyên nhân và điều kiện về tư tưởng, văn hoá – giáo dục

3.4. Nguyên nhân và điều kiện về tâm lý xã hội

3.5. Nguyên nhân và điều kiện về tổ chức quản lý

3.6. Nguyên nhân và điều kiện từ công tác phát hiện, đấu tranh phòng, chống tội phạm phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia

3.7. Nguyên nhân và điều kiện cụ thể của tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh

3.7.1. Nguyên nhân và điều kiện từ phía người phạm tội

3.7.2. Nguyên nhân và điều kiện từ tình huống phạm tội

4. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHÁ HUỶ CÔNG TRÌNH, PHƯƠNG TIỆN QUAN TRỌNG VỀ AN NINH QUỐC GIA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.1. Thực tiễn phòng chống tội Phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua

4.2. Chủ trương của tổ chức Đảng và Chính quyền địa phương trong đấu tranh phòng chống tội phạm

4.3. Thực trạng công tác phòng chống tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây

4.4. Dự báo tình hình tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

4.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia

4.5.1. Chủ trương chung của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tội phạm

4.5.2. Giải pháp kinh tế – xã hội

4.5.3. Giải pháp về tổ chức quản lý

4.5.4. Giải pháp về tư tưởng – văn hoá

4.5.5. Giải pháp pháp luật

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đấu Tranh Chống Tội Phá Hoại An Ninh Quốc Gia

Tội phá hoại công trình an ninh quốc gia là một vấn đề nhức nhối, đe dọa trực tiếp đến sự ổn định chính trịtrật tự xã hội. Tại TP. Hồ Chí Minh, một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội lớn của cả nước, việc bảo vệ các công trình quan trọng càng trở nên cấp thiết. Các hành vi phá hoại không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà còn tạo ra tâm lý hoang mang, lo sợ trong cộng đồng. Do đó, công tác phòng chống tội phạm này cần được triển khai một cách toàn diện và hiệu quả. Theo thống kê, số vụ phá hoại có xu hướng gia tăng, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có những giải pháp mạnh mẽ và kịp thời. Việc nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh quốc gia cũng là một yếu tố then chốt trong công tác phòng ngừa tội phạm.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của tội phá hoại theo Điều 231 BLHS

Điều 231 của Bộ luật Hình sự quy định rõ về tội phá hoại công trình an ninh quốc gia. Hành vi này bao gồm việc phá hủy, làm hư hỏng các công trình quan trọng như công trình quốc phòng, công trình kinh tế, công trình văn hóa, công trình xã hội, công trình giao thông, công trình thông tin liên lạc, công trình năng lượng, công trình thủy lợi, công trình nghiên cứu khoa học, công trình ngoại giao... Mục đích của hành vi là gây nguy hiểm cho an ninh quốc giatrật tự an toàn xã hội. Các đối tượng có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, cá nhân. Hậu quả nghiêm trọng của hành vi này có thể gây ra sự đe dọa an ninh quốc giaổn định chính trị.

1.2. Tầm quan trọng của công tác phòng chống tội phạm an ninh quốc gia

Công tác phòng chống tội phạm an ninh quốc gia có vai trò then chốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, ổn định chính trị, và trật tự xã hội. Việc ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi phá hoại giúp bảo vệ cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng, đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, và cá nhân. Đồng thời, công tác này còn góp phần tạo môi trường an toàn, ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phốđất nước.

II. Thực Trạng Tội Phá Hoại Công Trình An Ninh Tại TP

Trong những năm gần đây, tình hình tội phá hoại công trình an ninh quốc gia tại TP. Hồ Chí Minh diễn biến phức tạp. Các đối tượng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, gây khó khăn cho công tác điều tra. Theo số liệu thống kê, số vụ án liên quan đến phá hoại có xu hướng gia tăng, gây thiệt hại lớn về tài sản và ảnh hưởng đến tình hình an ninh chung của thành phố. Các công trình bị nhắm đến thường là các công trình giao thông, công trình thông tin liên lạc, và công trình năng lượng. Tỷ lệ phát hiện và xử lý tội phạm còn thấp, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt hơn nữa của các cơ quan chức năng.

2.1. Thống kê số vụ phá hoại và thiệt hại gây ra tại TP.HCM

Theo số liệu từ công an, trong giai đoạn 2004-2008, Công an thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 210 vụ phá hoại công trình an ninh quốc gia với 515 đối tượng, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng. Riêng năm 2007 và 2008, thiệt hại do cắt trộm dây điện và thiết bị tải điện đã gây thiệt hại cho ngành điện lực thành phố 10 tỷ đồng. Tỷ lệ phát hiện và đấu tranh chỉ đạt khoảng 3% trên tổng số vụ việc thực tế.

2.2. Phân tích các loại công trình thường bị phá hoại và thủ đoạn

Các công trình thường bị nhắm đến bao gồm công trình giao thông (cầu, đường), công trình thông tin liên lạc (trạm phát sóng, cáp quang), và công trình năng lượng (trạm biến áp, đường dây tải điện). Thủ đoạn phổ biến là trộm cắp vật tư, phá hoại thiết bị, gây cháy nổ. Các đối tượng thường lợi dụng sơ hở trong công tác bảo vệ, hoặc cấu kết với các đối tượng bên trong để thực hiện hành vi phạm tội.

III. Nguyên Nhân Và Điều Kiện Dẫn Đến Tội Phá Hoại An Ninh Quốc Gia

Tội phá hoại công trình an ninh quốc gia xuất phát từ nhiều nguyên nhân và điều kiện khác nhau. Các yếu tố kinh tế - xã hội, tư tưởng - văn hóa, và tâm lý xã hội đều có tác động đến hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, công tác quản lý, bảo vệ công trình còn nhiều sơ hở, tạo điều kiện cho các đối tượng thực hiện hành vi phá hoại. Việc phát hiện và xử lý tội phạm chưa kịp thời, thiếu tính răn đe cũng là một nguyên nhân quan trọng.

3.1. Các yếu tố kinh tế xã hội tư tưởng văn hóa tác động

Các yếu tố kinh tế - xã hội như tình trạng thất nghiệp, đời sống khó khăn, sự phân hóa giàu nghèo có thể thúc đẩy một số người thực hiện hành vi phá hoại để kiếm tiền hoặc thể hiện sự bất mãn. Các yếu tố tư tưởng - văn hóa như sự suy thoái về đạo đức, lối sống thực dụng, thiếu ý thức chấp hành pháp luật cũng góp phần làm gia tăng tội phạm.

3.2. Sơ hở trong công tác quản lý bảo vệ công trình an ninh

Công tác quản lý, bảo vệ công trình an ninh còn nhiều hạn chế, như thiếu nhân lực, trang thiết bị lạc hậu, quy trình kiểm tra lỏng lẻo. Điều này tạo điều kiện cho các đối tượng dễ dàng xâm nhập và thực hiện hành vi phá hoại. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác bảo vệ còn chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng chồng chéo, bỏ sót.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Phòng Chống Tội Phá Hoại Tại TP

Để nâng cao hiệu quả phòng chống tội phá hoại công trình an ninh quốc gia tại TP. Hồ Chí Minh, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh quốc gia. Nâng cao năng lực của các cơ quan chức năng trong công tác điều tra, xử lý tội phạm. Tăng cường đầu tư cho công tác bảo vệ công trình, áp dụng các giải pháp công nghệ hiện đại.

4.1. Tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật cho người dân

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an ninh quốc gia, đặc biệt là các quy định về tội phá hoại công trình an ninh quốc gia. Sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, như tổ chức các buổi nói chuyện, phát tờ rơi, chiếu phim, đăng tải thông tin trên các phương tiện truyền thông.

4.2. Nâng cao năng lực điều tra xử lý tội phạm của cơ quan chức năng

Các cơ quan chức năng cần được trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cần thiết để điều tra, xử lý tội phạm một cách nhanh chóng, chính xác. Tăng cường phối hợp giữa các lực lượng công an, viện kiểm sát, tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Xử lý nghiêm minh các hành vi phá hoại để tạo tính răn đe.

4.3. Ứng dụng công nghệ trong bảo vệ công trình an ninh quốc gia

Việc ứng dụng công nghệ an ninh như camera giám sát, báo động, kiểm soát ra vào giúp tăng cường khả năng phát hiện và ngăn chặn các hành vi phá hoại. Xây dựng hệ thống an ninh đồng bộ, kết nối các công trình quan trọng với trung tâm điều khiển để kịp thời xử lý các tình huống khẩn cấp.

V. Vai Trò Của Cộng Đồng Trong Phòng Chống Tội Phá Hoại An Ninh

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng chống tội phá hoại an ninh quốc gia. Người dân cần nâng cao ý thức cảnh giác, phát hiện và tố giác các hành vi nghi vấn. Tham gia vào các hoạt động bảo vệ công trình tại địa phương. Phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác tuần tra, kiểm soát.

5.1. Nâng cao ý thức cảnh giác tố giác tội phạm của người dân

Người dân cần được trang bị kiến thức về các dấu hiệu nhận biết hành vi phá hoại, cũng như cách thức liên hệ với các cơ quan chức năng khi phát hiện dấu hiệu nghi vấn. Khuyến khích người dân tham gia vào các phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.

5.2. Tham gia bảo vệ công trình an ninh tại địa phương

Người dân có thể tham gia vào các tổ tự quản, đội dân phòng để bảo vệ công trình tại địa phương. Phối hợp với các lực lượng chức năng trong công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện và ngăn chặn các hành vi phá hoại.

VI. Kết Luận Và Triển Vọng Về Phòng Chống Tội Phá Hoại An Ninh

Công tác phòng chống tội phá hoại công trình an ninh quốc gia là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự vào cuộc của toàn xã hội. Với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năngngười dân, cùng với việc áp dụng các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, chúng ta có thể ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm, bảo vệ vững chắc an ninh quốc giatrật tự an toàn xã hội.

6.1. Tóm tắt các giải pháp chính và hiệu quả đạt được

Các giải pháp chính bao gồm tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao năng lực điều tra, xử lý tội phạm, tăng cường đầu tư cho công tác bảo vệ công trình, và phát huy vai trò của cộng đồng. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này đã góp phần kiềm chế sự gia tăng của tội phạm, bảo vệ công trình quan trọng, và tạo môi trường an toàn cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

6.2. Định hướng và kiến nghị để nâng cao hiệu quả trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh quốc gia, tăng cường đầu tư cho công tác bảo vệ công trình, và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ an ninh hiện đại. Đồng thời, cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng chống tội phạm, và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

05/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I Nghị quyết số 04-HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định trong Phần các tội phạm của BLHS năm 1985 (nhưng đến nay vẫn được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng cho BLHS năm 1999) có nêu: “Nói chung, mọi hành vi cắt trộm đường dây thông tin liên lạc (điện thoại hoặc truyền thanh), đường dây tải điện, đang vận hành hoặc đang mắc dở dang để chuẩn bị vận hành mà không có mục đích chống chính quyền nhân dân, đều cấu thành tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về ANQG theo Điều 94. Có thể xem xét vị trí quan trọng cụ thể của từng loại đường dây ở từng nơi, từng lúc, kết hợp với tình tiết về nhân thân người phạm tội mà lượng hình cho sát hợp. Đối với trường hợp cắt trộm đường dây có mức độ nguy hiểm hạn chế (như: người phạm tội biết rõ là đường dây không sử dụng nữa, đường dây điện thoại vào nhà tư nhân, đường dây dẫn điện phục vụ sinh hoạt của một số gia đình, đường dây truyền thanh của xã ở thời điểm không có nhu cầu khẩn trương…” thì xử lý về “tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa” (Điều 138)…”. Căn cứ theo nội dung trên của Nghị quyết 04-HĐTP 29/11/1986, Toà án nhân dân tối cao có Công văn số 34-NCPL ngày 20/4/1991 hướng dẫn như sau: “1.

Hành vi lấy cắp đường dây dẫn điện, thiết bị về điện trong trạm hạ thế phải bị xử lý về tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia theo Điều 94 Bộ luật hình sự. Hành vi lấy cắp đường dây dẫn điện, đồng hồ đo điện dân dụng từ sau trạm hạ thế, nếu các loại tài sản đó là tài sản xã hội chủ nghĩa thì xử lý theo Điều 38 Bộ luật hình sự về tội huỷ hoại tài sản xã hội chủ nghĩa. Hành vi lấy cắp đường dây dẫn điện, đồng hồ đo điện dân dụng từ sau trạm hạ thế, nhưng nếu các tài sản đó là tài sản thuộc quyền sở hữu của công dân thì bị xử lý theo Điều 160 Bộ luật hình sự về tội huỷ hoại tài sản của công dân”. Theo qui định của các văn bản trên, có thể thấy rằng việc xác định đối tượng tác động của hành vi phá hủy CTPTQT về ANQG không chỉ đơn thuần dựa vào tên gọi của các công trình, phương tiện, mà còn phải dựa vào tính năng, tình trạng hoạt động cũng như vị trí hoạt động của các công trình, phương tiện này để xác định đây 12 có phải là CTPTQT về ANQG hay không.

Từ đó mới xác định có phạm tội phá hủy CTPTQT về ANGQ hay không. Tình trạng hoạt động, vị trí hoạt động, tính năng hoạt động, hình thức sở hữu của công trình, phương tiện là cơ sở để xác định tội danh của hành vi cũng như tên gọi của đối tượng tác động của hành vi. Chẳng hạn như: công trình điện nhưng đã bị hư hỏng, không sử dụng nữa thì hành vi cắt dây điện ở công trình này không được xem là phạm tội phá hủy CTPTQT về ANQG mà phạm vào tội huỷ hoại tài sản vì mức độ nguy hiểm hạn chế; hoặc đối với hành vi cắt trộm đường dây dẫn điện từ sau trạm hạ thế thì không được xem là hành vi phá hủy CTPTQT về ANQG mà được xem là hành vi huỷ hoại tài sản. Rõ ràng rằng, với nội dung hướng dẫn tại Nghị quyết số 04-HĐTP ngày 29/11/1986 và Công văn số 34-NCPL ngày 20/4/1991 nêu trên thì công trình bị hư hỏng không hoạt động; hoặc các công trình, phương tiện về điện từ sau trạm hạ thế không được coi là CTPTQT về ANQG.

Dù rằng đã có hướng dẫn bằng văn bản của Toà án nhân dân tối cao, nhưng trên thực tế do nhiều nguyên nhân mà việc xác định đối tượng bị xâm hại có phải là CTPTQT về ANQG hay không ở các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau, ở từng địa phương khác nhau, đối với từng cán bộ tiến hành tố tụng cũng có những quan điểm khác nhau. Chẳng hạn như: có quan điểm cho rằng: hành vi cắt phá đường dây thông tin liên lạc đang thi công, chưa nghiệm thu, chưa đưa vào sử dụng thì không cấu thành thành tội phá hủy CTPTQT về ANQG (trái với hướng dẫn tại Nghị quyết 04-HĐTP ngày 29/11/1986). Một số cơ quan tiến hành tố tụng khác cho rằng: bất cứ hành vi nào phá hủy công trình, phương tiện mà điều luật chỉ ra, không phân biệt qui mô công trình, hình thức sở hữu, mức độ thiệt hại… đều cấu thành tội phá hủy CTPTQT về ANQG (trái với hướng dẫn tại Công văn số 34-NCPL ngày 20/4/1991)1. Theo chúng tôi, việc hướng dẫn xác định CTPTQT về ANQG phải căn cứ vào đặc tính, qui mô, hình thức sở hữu, giá trị công trình cũng như mức độ thiệt hại gây ra theo công văn số 34-NCPL ngày 20/4/1991…là hợp lý.

Vì thực tế, các công trình, phương tiện hiện nay rất đa dạng về hình thức, cũng như qui mô, phục vụ cho rất nhiều ngành nghề, cũng như nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Nếu xác định đâu cũng là CTPTQT về ANQG thì sẽ dẫn đến tình trạng khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử loại tội này một cách tràn lan. Đồng thời cũng thể hiện sự đánh giá không khách quan, chính xác giá trị và tầm quan trọng của các công trình, phương tiện về ANQG, từ đó, việc thực hiện công tác đấu tranh, phòng và chống tội phạm phá hủy 1 Trần Quang Tiệp (2007), “Tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Công an nhân dân, (06), tr.

13 CTPTQT về ANQG không thể đi vào trọng tâm, khó có thể đạt hiệu quả cao trong công tác bảo vệ các CTPTQT về ANQG khỏi các hành vi xâm hại của tội phạm. Bên cạnh đó, không phải là bất hợp lý trong lập luận của một số cơ quan điều tra khi cho rằng hành vi cắt phá đường dây thông tin liên lạc chưa nghiệm thu, chưa đưa vào sử dụng hoặc đang được thi công thì không phạm tội phá hủy CTPTQT về ANQG, vì thực tế cho thấy các công trình chưa đưa vào sử dụng thì hiệu quả của công trình còn rất hạn chế, sức ảnh hưởng hay nói khác hơn là tính quan trọng liên quan đến ANQG chưa cao. Do vậy, hành vi phá hủy công trình, phương tiện chưa đưa vào sử dụng, hoặc chưa nghiệm thu, đang thi công chưa mang đến hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, giá trị cũng như tầm quan trọng của công trình sẽ được đánh giá theo một hướng khác nếu như công trình đó đã được lập hồ sơ đề nghị đưa vào danh mục công trình, phương tiện liên quan đến ANQG và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (dù chưa được thi công, hoặc đã thi công nhưng chưa được nghiệm thu, chưa đưa vào sử dụng).

Theo chúng tôi thì Nghị định số 126/2008/NĐ- CP ngày 11/12/2008 đã qui định việc xác lập danh mục công trình quan trọng liên quan đến ANQG cho một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các công trình, phương tiện nằm trong danh mục này hiển nhiên được xác định là CTPTQT về ANQG. Vì vậy, dù công trình đã được nghiệm thu, đưa vào sử dụng hay chưa, người thực hiện hành vi huỷ hoại các công trình, phương tiện này vẫn phạm vào tội phá hủy CTPTQT về ANQG. Vấn đề đặt ra là hiện nay là tuy đã có qui định về việc xác lập danh mục công trình quan trọng liên quan đến ANQG nhưng qui định này vẫn chưa được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành. Do vậy, Nhà nước cần phải có sự thúc đẩy các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động thẩm định, lập hồ sơ và đề nghị đưa các công trình hội đủ các tiêu chí được nêu tại Điều 7 Nghị định 126/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 vào danh mục công trình quan trọng liên quan đến ANQG và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Việc đưa ra được danh mục các công trình, phương tiện quan trọng liên quan đến ANQG sẽ là căn cứ pháp lý cực kỳ quan trọng để xác định đối tượng bị xâm hại của tội phá hủy CTPTQT về ANQG. * Về mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi khách quan và hậu quả do hành vi này gây ra. Hành vi khách quan của tội phạm chính là hành vi phá hủy các CTPTQT về ANQG. Hành vi phá hủy tức là làm cho các công trình, phương tiện này bị tiêu huỷ toàn bộ hay một phần, là làm mất một phần hoàn toàn hoặc một phần giá trị sử dụng của chúng, có thể sửa chữa hoặc thay thế được.

Hành vi phá hủy được thể hiện bằng 14 nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau như: đốt, cắt, đào, khoan, cho nổ mìn…, từ đó làm biến dạng hay tiêu huỷ hẳn đối tượng. Về mặt hành vi khách quan, có thể phân biệt giữa hành vi phá hủy và hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng (qui định tại Điều 143 BLHS năm 1999) ở chỗ: hành vi phá hủy mang ý nghĩa nghiêm trọng hơn hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng. Hành vi phá hủy không chỉ làm hư hỏng tài sản (các công trình, phương tiện), mà nó còn trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên sự mất an toàn đối với trật tự xã hội. Căn cứ vào đối tượng tác động mà người phạm tội có thể thực hiện một số các hành vi sau: - Phá hủy công trình, phương tiện giao thông vận tải.

Hành vi này bao gồm việc huỷ hoại và làm hư hỏng các công trình, phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không… Hành vi này khác với các hành vi gây cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không, được qui định tại các Điều 203, 209, 213 và Điều 217 BLHS năm 1999. Các hành vi qui định tại các điều nêu trên chỉ nhằm mục đích cản trở giao thông, không mang mục đích phá hủy các công trình, phương tiện giao thông, đồng thời, chúng cũng mang tính nhất thời trong một khoảng thời gian, không gian nhất định. - Phá hủy công trình, phương tiện thông tin - liên lạc. Hành vi này thể hiện bằng nhiều phương thức, thủ đoạn rất tinh vi và đa dạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ