Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình phái cử điều dưỡng viên, hộ lý người Việt Nam đi Nhật làm việc Chương này tác giả tập trung phân tích vấn đề già hóa dân số tại Nhật Bản, dẫn đến sự thiếu hụt lao động tự nhiên, nhiều người già nói riêng cần chăm sóc trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe, viện dưỡng lão ngày một tăng. Tuy nhiên nghề điều dưỡng, hộ lý vat va, thu nhập thấp khiến ít người Nhật theo ngành. Chính điều này đã tạo ra khoảng trống, sự thiếu hụt về lao động trong lĩnh vực điều dưỡng, hộ 12 lý tại Nhật, đặt ra van đề cần có lao động nước ngoài bù vào khoảng trống đó. Từ đó, các chương trình liên kết, hợp tác giữa Nhật Bản và các nước ra đời.
Thông qua việc phân tích yêu cầu đặt ra đối với điều dưỡng viên, hộ lý người Việt Nam từ cơ quan tiếp nhận phía Nhật Bản, cũng như phân tích những vấn đề trong phái cử điều dưỡng viên, hộ lý người Việt Nam đi Nhật, tác giả đã làm rõ tính cấp thiết trong việc chú trọng đào tạo tiếng Nhật cho các đối tượng này. Chương 2: Thực trạng đào tạo tiếng Nhật cho điều dưỡng viên, hộ lý người Việt Nam đi Nhật Bản làm việc từ năm 2012 đến năm 2019 Chương này tác giả sẽ phân tích tổng quan đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam, thực trạng đào tạo tiếng Nhật cho điều dưỡng viên, hộ lý người Việt Nam trước khi sang Nhật, sau khi sang Nhật, làm rõ các vấn đề liên quan đến điều dưỡng viên, hộ lý, các cơ sở đào tạo tiếng Nhật cho điều dưỡng viên, hộ lý, các cơ sở tiếp nhận phía Nhật Bản. Việc phân tích những khó khăn trong đào tạo tiếng Nhật cho điều dưỡng viên, hộ lý người Việt Nam ở chương này sẽ là tiền đề để đưa ra các kiến nghị, giải pháp ở chương 3. Chương 3: Giải pháp đối với đào tạo tiếng Nhật cho điều dưỡng viên, hộ lý người Việt Nam đi Nhật Bản làm việc Trên cơ sở phân tích hai chương trước, tại chương này tác giả đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến điều dưỡng viên, hộ lý, các cơ sở đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam và cơ quan tiếp nhận phía Nhật Bản.
Tác giả đưa ra các nhóm giải pháp đối với dao tạo tiếng Nhật trước khi đến Nhật, và đào tạo tiếng Nhật sau khi đến Nhật, hướng tới thi đỗ Chứng chỉ quốc gia, hòa nhập và thích nghi với công việc tại Nhật. Trong chương nay, tác gia cũng đưa ra những kinh nghiệm dé thích ứng với những thay đổi của hoàn cảnh, sau ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 tới việc đào tao tiếng Nhật cho điều dưỡng viên, hộ lý. CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN TINH HÌNH PHAI CỬ DIEU DƯỠNG VIÊN, HỘ LÝ NGƯỜI VIỆT NAM ĐI NHẬT LÀM VIỆC 1. Một số khái niệm 1.
Điều dưỡng viên Tại Nhật Bản, điều dưỡng viên (#iññ) là người có nhiệm vụ chăm sóc, hỗ trợ điều trị cho người bệnh, người bị thương, người tàn tật, xử trí và thực hiện theo y lệnh của bác sĩ. Điều dưỡng viên có nhiệm vụ báo cáo tình trạng của bệnh nhân tới bác sĩ, có thể sử dụng các thiết bị y té dé phục vụ cho tri liệu của bệnh nhân. Ngoài việc hỗ trợ bác sĩ, điều đưỡng viên cũng có nhiệm vụ quan trọng trong việc giao tiếp, kết nối giữa bệnh nhân và nhân viên y tế, thực hiện tư vấn, hướng dẫn, chăm sóc tinh thần cho người bệnh như: hỏi về tiền sử bệnh tật, tình trạng bệnh hiện tại.Điều đưỡng viên cần chú ý trong giao tiếp để người bệnh luôn có được tâm lý thoải mái trong quá trình điều trị [17]. Trong bối cảnh dân số Nhật Bản ngày càng già hóa, điều dưỡng viên không chỉ làm việc tại các bệnh viện mà còn có thể làm việc tại các viện dưỡng lão, cơ so chăm sóc sức khỏe người cao tuôi.
Hộ lý Tại Nhật Bản, hộ lý (r#@+) có nhiệm vụ hỗ trợ sinh hoạt (#ï#‡#1), chăm sóc thé chat (#(k2:ï#), những hỗ trợ khác (ø3422+‡#). Công việc hỗ trợ sinh hoạt cá nhân là làm những công việc mà người sử dụng dich vụ chăm sóc không thé tự làm: dọn dep, nấu nướng, giặt giũ.Công việc chăm sóc thé chat là trợ giúp người sử dụng dịch vụ ăn uống, tăm rửa, bài tiết, đi chuyên, nghỉ ngơi.Những hỗ trợ khác bao gồm: chăm sóc tinh thần, cung cấp các hoạt động giải trí, tập vật lý trị liệu, phục hồi chức nang,. Đặc biệt, khác với điều dưỡng viên, hộ lý tuyệt đối không được sử dụng các thiết bị y tế như: máy thở, máy moniter, bơm tiêm điện, máy truyền dịch, không được phép tiêm, truyền, quản lý dược phẩm.[27] Các hộ lý chủ yếu làm việc tại các viện dưỡng lão, trung tâm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người cao tuôi, các nhà chăm sóc theo nhóm. Giáo dục tiếng Nhật Giáo dục tiếng Nhật (H ä##?Ÿ) là giảng dạy tiếng Nhật cho những người mà tiếng Nhật không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ.
Tùy từng mục đích học mà giảng dạy tiếng Nhật được chia thành 4 hình thức: giảng dạy tiếng Nhật như một ngoại ngữ (Japanese as a foreign language) dành cho người học tiếng Nhật trong một khoảng thời gian nhất định, giảng dạy tiếng Nhật như một ngôn ngữ thứ hai (Japanese as a second language) dành cho người không về nước mà ở lại Nhật làm việc lâu dài, sử dụng tiếng Nhật như một ngôn ngữ thứ hai, giảng dạy tiếng Nhật như một ngôn ngữ kế thừa (Japanese as the heritage language) dành cho những người nước ngoài gốc Nhật, học tiếng Nhật với mục đích kế thừa ngôn ngữ, văn hóa của cha mẹ, giảng dạy tiếng Nhật như là ngôn ngữ quốc gia (Japanese as the national language) [19]. Liên quan đến hình thức giảng dạy tiếng Nhật như một ngoại ngữ, tại Nhật Bản, bên cạnh đảo tạo tiếng Nhật cho du học sinh tại các trường tiếng Nhật, cho trẻ em người nước ngoài tại trường tiểu học, thì đào tạo tiếng Nhật cho các điều dưỡng viên, hộ lý người nước ngoài sang Nhật Bản làm việc theo Hiệp định hợp tác kinh tế cũng nhận được nhiều sự quan tâm từ chính phủ. Tổng quan tình hình phái cử điều dưỡng viên, hộ lý người Việt Nam đi Nhật làm việc 1. Bỗi cảnh chung % Tình hình điều dưỡng viên, hộ lý của Nhật Bản hiện nay - Khan hiểm nhân lực ngành điều dưỡng, hộ lý Từ sau thập niên 1990, Nhật Bản bước vào xã hội già hóa và tiễn tới xã hội siêu già hóa.
Theo báo cáo của Văn phòng Nội các Nhật Bản, Nhật Bản tiến vào xã hội già năm 1994 với tỉ lệ người cao tudi là 14%. Ti lệ già hóa dân số tại Nhật tiếp tục tăng cao, đến thời điểm 1/10/2018 số người trên 65 tuổi chiếm 28.1% tổng dân số. Lúc này Nhật Bản đã chính thức bước vào xã hội siêu già hóa. Đến năm 2019, số người trên 65 tudi tiếp tục tăng manggh và chiếm 28.4% tổng dân số [18].
Theo số liệu của Bộ Y tế-Lao động-Phúc lợi xã hội Nhật Bản, tuổi thọ trung bình của người Nhật ngày càng cao, được thé hiện trong biểu đồ dưới đây: 15 Don vi: Tuôi 90 ss eee so xxx. nanan 75 70 8 s#5šY# SE š#68zÈt8YšxÈỀŠ885=ahẽh As 4 Aaa nd Aaa naoscsdcsd © © G E E =¬ = = HA aA -= m œ œ 0 œ 0 0ø G G0 G0 OÔ ©Ô GÔ CS CGSÔÃC SG CC CcCCC CC Ss Ae et ¬ aH TH FH TH TH HNN ÑN N N N NN 1n NNN NN nN N —e—Nam “Nữ Biểu đồ 1. Tudi thọ trung bình của người Nhật (1990-2015) [2] ( Nguồn: http://cjs.php ?newsid= 1387, truy cập ngày 8/6/2019 ) Song song với vấn dé số người cao tuổi tăng cao thì số người trong độ tuôi lao động từ 14 đến 64 đang trong xu hướng giảm dan dẫn đến sự thay đổi về cơ cau dân số. Theo báo cáo của Văn phòng Nội các Nhật Bản (2019), nếu như dân số trong độ tuổi lao động từ 16 - 64 tuổi vào năm 1995 là 87,16 triệu người thì những năm sau đó liên tục giảm, và đến năm 2020 chỉ còn 75,07 triệu người, chỉ chiếm 59,5% tổng dân số [18, tr.
Vấn dé xã hội siêu già hóa, sự thay đổi trong cơ cấu dân số đã ảnh hưởng đến nguồn lao động, sự thiếu hụt lực lượng lao động trong xã hội Nhật Bản. Năm 2015, cứ 10 người trong độ tuổi lao động thi có 1 người cao tuôi, nhưng dự báo đến năm 2050, con số này giảm xuống còn 1,2 người trong độ tudi lao động thì có 1 người cao tuổi [32]. Sự thiếu hụt nguồn lao động xảy ra ở nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên quan đến các ngành nghé sử dụng nhiều lao động như: dịch vụ, xây dựng, điều dưỡng. Nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi ngày càng khan hiếm tại Nhật Bản.
Theo công bố của Bộ Y tế-Lao động-Phúc lợi xã hội Nhật Bản vào năm 2019, ngành điều dưỡng đang thiếu hụt một cách trầm trọng. Nếu năm 2016, số lượng hộ lý cần khoảng 1.000 người, trong khi đó so với nhu cầu đó trên thực tế thiếu khoảng 70. Cùng với việc già hóa dân số, số người cao tuổi trên 85 tuổi tăng cao, dự đoán đến năm 2020 cần 2.000 người, dự đoán đến năm 2025 cần khoảng 2.000 người dé đáp ứng nhu cầu trong nước [21. 16 Hơn thế nữa, theo tình hình dự đoán trong tương lai khi Nhật Bản bước vào xã hội siêu già hóa, số người trên 75 tuổi sẽ chiếm số đông, kéo theo số lượng điều dưỡng viên, hộ lý chăm sóc cần tăng đáng ké thì số lượng hiện tại không đáp ứng đủ nhu cầu.
Như vậy việc thiếu nguồn nhân lực trong ngành này đang thực sự trở thành van đề tram trọng của xã hội Nhật Bản. - Nguyên nhân dẫn đến sự khan hiểm lao động điều dưỡng, hộ lý Theo kết quả điều tra của Bộ Nội vụ (từ 2009-2017), hộ lý nguyên nhân thứ nhất dẫn đến sự thiếu hụt điều dưỡng viên, hộ lý là tình trạng tuyên dụng gặp nhiều khó khăn (chiếm 88,5%), điều dưỡng viên, hộ lý nghỉ việc tăng cao (chiếm 18,4%) [21. Chăm sóc tại nhà Li do thiểu nhân viên (có : © 10 20 3 be sọ bed ww thé chon nhiéu dap an) 21s a = 232 0C~<‘ | 100 2st a 8 245 + Thiếu nhiều 845 235K a ———=-.1 @&#| 15) Ct a 281 — 1 75% NHÿNHHNNNNERN @ 8&8 21 < 355 as 8=€=€ 240 — + 50 29% eee AMOR FR on 184 108 Nhân viên chăm sóc LÍ +6 ®%) O0 10 20 30 40 60 _ 21 À : 0!