Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực nông thôn đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam. Cả nước hiện có khoảng 32,7 triệu lao động nông thôn, chiếm 76% lực lượng lao động toàn quốc, tuy nhiên tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trước đây chỉ đạt khoảng 18,7% đến 25%. Tại tỉnh Thái Bình, một địa bàn đồng bằng ven biển có diện tích tự nhiên 1.542 km2 với 8 đơn vị hành chính cấp huyện và thành phố, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là giải quyết nghịch lý giữa nhu cầu tuyển dụng công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng và trình độ kỹ thuật còn thấp của lực lượng lao động địa phương, hạn chế tình trạng mất cân đối việc làm và nguy cơ tái nghèo do mất đất canh tác. Luận văn xác định mục tiêu cụ thể là đánh giá toàn diện thực trạng công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010 - 2013, làm rõ những thành tựu, bất cập cùng nguyên nhân cốt lõi, từ đó xây dựng hệ thống khuyến nghị khoa học nhằm nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước về lao động. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ 7 huyện và 1 thành phố của tỉnh Thái Bình trong mốc thời gian 3 năm từ 2010 đến 2013. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp tỉnh nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên mức 36,5% vào cuối năm 2013, đồng thời bảo đảm tỷ lệ học viên có việc làm ổn định hoặc nâng cao thu nhập sau đào tạo đạt trên 80%, đóng góp thiết thực vào tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp các nền tảng lý thuyết kinh tế và quản lý hiện đại. Trước hết, luận văn vận dụng Lý thuyết Vốn nhân lực của Theodore Schultz và Gary Becker, khẳng định việc đầu tư vào giáo dục, đào tạo nghề chính là phương thức tích lũy vốn con người hiệu quả nhất, trực tiếp gia tăng năng suất lao động và tạo ra lợi nhuận kinh tế dài hạn cho người nông dân. Thứ hai, tác giả áp dụng Lý thuyết Chuyển dịch cơ cấu lao động của Arthur Lewis và mô hình phát triển nông thôn, giải thích cơ chế chuyển dịch lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang khu vực công nghiệp và dịch vụ thông qua cầu nối đào tạo kỹ năng.

Hệ thống khung lý thuyết bao hàm các khái niệm cốt lõi: Đào tạo nghề được hiểu là quá trình trang bị kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành nghề nghiệp có hệ thống theo 3 cấp độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng; Việc làm là mọi hoạt động lao động hợp pháp tạo ra thu nhập chính đáng; Lao động nông thôn là lực lượng sản xuất cư trú và hoạt động trong không gian kinh tế nông thôn; Giải quyết việc làm là tổng thể chính sách kinh tế - xã hội nhằm tạo cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập. Mối quan hệ giữa đào tạo nghề và việc làm mang tính tương tác hữu cơ hai chiều, trong đó thị trường lao động xác định nhu cầu đào tạo, còn đào tạo nghề cung ứng nguồn nhân lực đáp ứng chuẩn kỹ năng. Đề tài nhấn mạnh quy chuẩn cơ cấu lao động kỹ thuật cân đối là 1 đại học, 4 trung học chuyên nghiệp và 15 đến 20 công nhân kỹ thuật nhằm khắc phục triệt để hiện tượng thừa thầy thiếu thợ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử và logic nhằm theo dõi tiến trình biến đổi kinh tế - xã hội tại địa phương. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2010 - 2013 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Dạy nghề, kết hợp với các văn bản pháp lý chủ đạo như Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các Quyết định phân bổ ngân sách số 2918/QĐ-UBND, Quyết định 121/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình năm 2013.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu tiến hành khảo sát toàn diện trên 27 cơ sở dạy nghề thuộc mạng lưới giáo dục nghề nghiệp toàn tỉnh và tổng hợp số liệu khảo sát từ 11.855 lao động nông thôn tham gia 22 ngành nghề đào tạo trong năm 2013. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp định ngạch được áp dụng tại các huyện điển hình như Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Kiến Xương và Vũ Thư, bảo đảm tỷ lệ đại diện cân bằng giữa nhóm nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tổng hợp chỉ số tài chính - đào tạo và so sánh đối chiếu đa chiều là nhằm làm rõ bức tranh thực tế, lượng hóa chính xác hiệu quả đầu tư công và đánh giá đúng mức độ tương thích giữa chương trình đào tạo với nhu cầu thị trường trong suốt timeline nghiên cứu từ năm 2010 đến 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mạng lưới cơ sở đào tạo nghề tại Thái Bình có sự phát triển nhanh chóng về quy mô. Tính đến hết năm 2013, toàn tỉnh đã thiết lập 27 cơ sở dạy nghề bao gồm 8 trường trung cấp nghề, 18 trung tâm dạy nghề cấp huyện và 1 cơ sở liên kết cao đẳng nghề. Trong năm 2013, tổng quy mô tuyển sinh đạt 33.500 người, trong đó trình độ cao đẳng nghề chiếm 2.000 người, trung cấp nghề đạt 4.800 người và trình độ sơ cấp nghề hoặc đào tạo dưới 3 tháng đạt 26.700 người, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề toàn tỉnh lên mức 36,5%.

Thứ hai, việc triển khai Đề án 1956 mang lại bước đột phá về cơ cấu nguồn lực và chất lượng đầu ra. Riêng năm 2013, tổng kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn đạt 15,1 tỷ đồng, phân bổ 4,3 tỷ đồng cho 6 cơ sở dạy nghề nông nghiệp và 9,2 tỷ đồng cho 24 cơ sở dạy nghề phi nông nghiệp. Kết quả đã hỗ trợ dạy nghề cho 11.855 lao động với 22 nghề chuyên biệt (4.800 lao động nông nghiệp và 7.055 lao động phi nông nghiệp), đạt tỷ lệ có việc làm mới hoặc tự tạo việc làm với thu nhập cao hơn trên 80%.

Thứ ba, sự gắn kết giữa vốn tín dụng chính sách và bảo tồn làng nghề truyền thống đem lại hiệu quả xã hội sâu rộng. Thông qua Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, hơn 3.000 lượt dự án đã được giải ngân với tổng dư nợ vượt 95 tỷ đồng, tạo việc làm cho 32.000 lao động, trong đó có 14.000 việc làm mới. Các làng nghề tiêu biểu như Bánh Cáy Làng Nguyễn tại xã Nguyên Xá huyện Đông Hưng, Chiếu Hới tại huyện Hưng Hà và Làng vườn sinh thái Bách Thuận tại huyện Vũ Thư đã giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng nghìn nhân lực dôi dư.

Thứ tư, công tác đào tạo vẫn bộc lộ những điểm nghẽn nghiêm trọng. Có tới 16 nghề kỹ thuật công nghệ như nguội chế tạo, lắp ráp cơ khí và dầu khí hầu như bị lãng quên trong tuyển sinh. Đồng thời, sự thiếu hụt giáo viên khiến Trường Trung cấp nghề Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Thái Bình phải chuyển 100 triệu đồng kinh phí sang Trung tâm dạy nghề Quỳnh Phụ, và Trường Trung cấp nghề Thủ công Mỹ nghệ Kiến Xương phải chuyển nguồn 600 triệu đồng sang năm 2014 do kiện toàn bộ máy.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phản ánh rõ tính quy luật của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại vùng Đồng bằng sông Hồng. Nguyên nhân chính của những thành tựu đạt được xuất phát từ sự chỉ đạo quyết liệt của Ban chỉ đạo Đề án 1956 các cấp và sự đồng thuận của nhân dân. Tuy nhiên, tình trạng mất cân đối ngành nghề bắt nguồn từ tâm lý chuộng bằng cấp của người dân và hạn chế trong công tác dự báo thị trường của các cơ quan quản lý. So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây của Chu Tiến Quang và Nguyễn Tiệp, bức tranh lao động tại Thái Bình cho thấy bước tiến rõ rệt về tỷ lệ việc làm sau học nghề (vượt mốc 80% so với mức trung bình 70% toàn quốc), song áp lực việc làm phi nông nghiệp vẫn tăng cao do quá trình thu hồi đất sản xuất.

Để minh họa trực quan, dữ liệu đào tạo và giải quyết việc làm của luận văn có thể được biểu diễn hoàn hảo thông qua biểu đồ cột chồng phân tích cơ cấu tuyển sinh theo 3 cấp trình độ và bảng số liệu so sánh hiệu quả giải ngân nguồn vốn 15,1 tỷ đồng giữa nhóm nghề nông nghiệp (chiếm 28,5%) và phi nông nghiệp (chiếm 60,9%). Cách trình bày này giúp các nhà quản lý nhận diện tức thì mức độ mất cân đối giữa đào tạo ngắn hạn sơ cấp và đào tạo chuyên sâu dài hạn, tạo cơ sở điều chỉnh định hướng ngân sách hợp lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, đổi mới nội dung và hiện đại hóa chương trình đào tạo theo tín hiệu thị trường: Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp rà soát toàn bộ danh mục nghề, nâng tỷ lượng thời gian thực hành lên tối thiểu 70%, mở rộng quy mô từ 22 nghề hiện tại lên hơn 35 nghề trọng điểm vào năm 2020, ưu tiên các ngành kỹ thuật cơ khí, chế biến nông sản xuất khẩu và công nghệ sinh học.

Hai là, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên dạy nghề: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với 27 cơ sở dạy nghề xây dựng kế hoạch bồi dưỡng định kỳ, hoàn thành chỉ tiêu 100% giáo viên đạt chuẩn nghiệp vụ sư phạm dạy nghề và ít nhất 80% giáo viên có khả năng giảng dạy tích hợp lý thuyết và thực hành trước năm 2018, đồng thời ban hành chính sách đãi ngộ thu hút nghệ nhân làng nghề tham gia giảng dạy.

Ba là, nâng cấp hạ tầng cơ sở vật chất và phân bổ nguồn lực tài chính hiệu quả: Ban chỉ đạo Đề án 1956 cấp tỉnh thực hiện cơ chế giám sát giải ngân nguồn vốn 15,1 tỷ đồng hàng năm, dành tối thiểu 60% tổng vốn đầu tư công để mua sắm trang thiết bị thực hành cho 18 trung tâm dạy nghề cấp huyện, hoàn thành việc xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu quản lý dạy nghề giai đoạn 2015 - 2020.

Bốn là, mở rộng thị trường lao động và gia tăng quy mô tín dụng ưu đãi: Ngân hàng Chính sách Xã hội cùng hệ thống ngân hàng thương mại nâng hạn mức giải ngân vốn vay giải quyết việc làm từ Quỹ quốc gia vượt mức 120 tỷ đồng mỗi năm, kết hợp với các trung tâm giới thiệu việc làm đẩy mạnh kết nối cung cầu doanh nghiệp FDI, bảo đảm tỷ lệ kết nối việc làm sau đào tạo đạt trên 85% trong giai đoạn 2016 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm một, các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Bao gồm Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ủy ban nhân dân các cấp tại Thái Bình và các tỉnh lân cận; tài liệu cung cấp khung giải pháp thực chứng để xây dựng quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề và tối ưu hóa phân bổ ngân sách Đề án 1956.

Nhóm hai, ban giám hiệu và cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Trực tiếp áp dụng vào 8 trường trung cấp nghề và 18 trung tâm dạy nghề nhằm cải tiến chương trình đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên tích hợp và thiết lập mô hình liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp.

Nhóm ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học quản lý và Kinh tế phát triển: Khai thác bộ khung lý thuyết vốn nhân lực, phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng và kho dữ liệu thống kê giai đoạn 2010 - 2013 phục vụ các công trình nghiên cứu mở rộng về thị trường lao động nông thôn.

Nhóm bốn, các hiệp hội làng nghề và chủ doanh nghiệp tư nhân: Sử dụng các mô hình bảo tồn làng nghề như bánh cáy Đông Hưng hay chiếu Hưng Hà để tổ chức đào tạo nghề tại chỗ, tiếp cận nguồn lao động có tay nghề và kết nối chuỗi bao tiêu sản phẩm nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Mục tiêu trọng tâm của công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010 - 2013 là gì? Trả lời: Mục tiêu chính là trang bị kỹ năng nghề thực tế cho nông dân, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của tỉnh lên mức 36,5% vào năm 2013, bảo đảm trên 80% học viên có việc làm ổn định hoặc nâng cao thu nhập, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chuẩn nông thôn mới.

Câu hỏi 2: Mạng lưới cơ sở dạy nghề tại Thái Bình được phân bổ và hoạt động ra sao trong thời gian nghiên cứu? Trả lời: Toàn tỉnh thiết lập mạng lưới gồm 27 cơ sở dạy nghề, bao gồm 8 trường trung cấp nghề, 18 trung tâm dạy nghề phân bổ đều khắp 8 huyện thị và 1 cơ sở liên kết cao đẳng nghề, đạt quy mô tuyển sinh 33.500 học viên các cấp trong năm 2013.

Câu hỏi 3: Nguồn kinh phí triển khai Đề án 1956 tại tỉnh Thái Bình năm 2013 được phân bổ như thế nào? Trả lời: Tổng kinh phí thực hiện đạt 15,1 tỷ đồng, trong đó 4,3 tỷ đồng được phân bổ cho 6 cơ sở dạy nghề nông nghiệp, 9,2 tỷ đồng cho 24 cơ sở dạy nghề phi nông nghiệp, phần còn lại dành cho bồi dưỡng giáo viên và xây dựng phần mềm quản lý.

Câu hỏi 4: Kết quả giải quyết việc làm và thu nhập của học viên sau các khóa học nghề đạt tỷ lệ bao nhiêu? Trả lời: Theo số liệu nghiệm thu năm 2013, trên 80% trong tổng số 11.855 lao động nông thôn hoàn thành khóa học đã tìm được việc làm mới, được doanh nghiệp tuyển dụng hoặc tiếp tục sản xuất với năng suất và thu nhập tăng từ 15% đến 25%.

Câu hỏi 5: Đâu là nguyên nhân cốt lõi khiến một số ngành nghề kỹ thuật cao vẫn thiếu học viên đào tạo tại địa phương? Trả lời: Nguyên nhân chủ yếu do nhận thức của người lao động còn chuộng bằng cấp đại học, tâm lý e ngại học nghề dài hạn, cùng với sự thiếu hụt trang thiết bị hiện đại và giáo viên chuyên môn tại 18 trung tâm dạy nghề cấp huyện.

Kết luận

  • Đào tạo nghề và giải quyết việc làm là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu, trực tiếp nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh Thái Bình lên 36,5% vào năm 2013.
  • Đề án 1956 tại Thái Bình đạt kết quả ấn tượng với 11.855 lao động được hỗ trợ học nghề và tỷ lệ có việc làm sau đào tạo vượt mốc 80%.
  • Nguồn vốn tín dụng ưu đãi trên 95 tỷ đồng từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm đã giải quyết việc làm cho 32.000 lao động và phục hồi mạnh mẽ các làng nghề truyền thống.
  • Luận văn đã chỉ rõ các điểm nghẽn thực tiễn về mất cân đối cơ cấu 22 ngành nghề đào tạo và năng lực hạn chế của đội ngũ giáo viên.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về thể chế, vốn đầu tư, nhân lực và thông tin thị trường cung cấp lộ trình thực thi khả thi cho giai đoạn tiếp theo.

Đóng góp chính của luận văn là đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc về quản lý công tác dạy nghề cấp tỉnh. Về lộ trình bước tiếp theo cho giai đoạn 2015 - 2020, địa phương cần khẩn trương số hóa dữ liệu lao động và mở rộng mạng lưới liên kết doanh nghiệp. Kính mời các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và quý độc giả tiếp tục ứng dụng các phát hiện khoa học của công trình để xây dựng các chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn bền vững.