Luận văn: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Sơn Dương, Tuyên Quang

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Sơn Dương, Tuyên Quang và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản trị nhân lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đào tạo nghề LĐNT huyện Sơn Dương Nền tảng phát triển KT XH

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) tại huyện Sơn Dương, Tuyên Quang là một nhiệm vụ chiến lược, đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Sơn Dương. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao từ khu vực nông thôn không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là đòn bẩy để xóa đói giảm nghèo bền vững. Nghị quyết số 26/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương khóa X đã nhấn mạnh, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Tại Sơn Dương, một huyện miền núi với gần 70% dân số sống ở nông thôn, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn càng trở nên quan trọng. Giai đoạn 2016-2018, huyện đã chứng kiến sự chuyển dịch kinh tế tích cực, với tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng dần, đòi hỏi một lực lượng lao động có tay nghề và chuyên môn kỹ thuật cao. Mục tiêu của huyện là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 50-60% vào năm 2020. Do đó, việc phân tích thực trạng và đề ra giải pháp hiệu quả cho công tác đào tạo nghề là vô cùng cần thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của địa phương.

1.1. Vai trò của dạy nghề trong chuyển đổi cơ cấu lao động

Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn là khâu đột phá làm dịch chuyển cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Tại Sơn Dương, cơ cấu lao động đã có sự thay đổi tích cực: lao động trong nông nghiệp giảm từ 66% (2016) xuống còn 59% (2018), trong khi lao động công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Quá trình này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc trang bị kỹ năng mới cho người lao động. Đào tạo nghề giúp LĐNT tiếp cận các nghề phi nông nghiệp như may công nghiệp, hàn điện, chế biến nông sản, dịch vụ du lịch. Điều này không chỉ giúp họ tìm kiếm việc làm tại các doanh nghiệp, khu công nghiệp mà còn tạo điều kiện để tự khởi nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình, góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm tại chỗ và ổn định xã hội.

1.2. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại địa phương

Huyện Sơn Dương đặt mục tiêu xây dựng một nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 35% đến 40% vào năm 2020. Để đạt được mục tiêu này, chương trình đào tạo không chỉ tập trung vào số lượng mà còn chú trọng chất lượng. Các chương trình học nghề ở Sơn Dương được định hướng gắn liền với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và quy hoạch phát triển của huyện. Việc đào tạo nhằm tạo ra một đội ngũ lao động có kỷ luật, tác phong công nghiệp và kỹ năng chuyên môn vững vàng, có khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động khu vực, đặc biệt là lao động nông thôn Tuyên Quang.

II. Phân tích thực trạng đào tạo nghề LĐNT Sơn Dương 2016 2018

Giai đoạn 2016-2018, công tác đào tạo nghề cho LĐNT huyện Sơn Dương đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Công tác tuyên truyền được triển khai đa dạng, giúp nâng cao nhận thức của người dân. Tuy nhiên, việc xác định nhu cầu đào tạo đôi khi chưa sát với thực tế, dẫn đến tình trạng một số ngành nghề đào tạo xong nhưng khó tìm việc làm. Theo khảo sát, mặc dù hiệu quả sau đào tạo nghề có sự cải thiện về thu nhập cho một bộ phận lao động, tỷ lệ có việc làm đúng ngành nghề đào tạo vẫn chưa cao như kỳ vọng. Một trong những thách thức lớn nhất là cơ sở vật chất dạy nghề tại các trung tâm còn thiếu thốn, chưa đồng bộ. Mạng lưới cơ sở dạy nghề, đặc biệt là các lớp học lưu động tại xã, thôn, chưa phát huy hết hiệu quả. Sự phối hợp giữa các trung tâm giáo dục nghề nghiệp, chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình và bao tiêu đầu ra còn lỏng lẻo. Những hạn chế này là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả tổng thể của công tác dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn.

2.1. Kết quả công tác tuyên truyền và xác định nhu cầu học nghề

Công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm được huyện Sơn Dương chú trọng. Năm 2018, đã có 135 lượt tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh, phát hành 1.622 tờ rơi và tổ chức 86 hội nghị truyền thông. Theo khảo sát, 58.7% người lao động biết đến các chương trình đào tạo qua phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, việc xác định nhu cầu học nghề ở Sơn Dương vẫn còn bất cập. Bảng 2.4 của luận văn cho thấy có sự chênh lệch giữa nhu cầu đào tạo của người lao động và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp, cho thấy công tác khảo sát, dự báo thị trường lao động cần được cải thiện để đảm bảo đào tạo đúng đối tượng, đúng ngành nghề xã hội cần.

2.2. Hạn chế về cơ sở vật chất và mạng lưới dạy nghề tại chỗ

Mạng lưới cơ sở dạy nghề của huyện chủ yếu dựa vào Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN-GDTX). Theo đánh giá, cơ sở vật chất dạy nghề của trung tâm còn nhiều hạn chế, trang thiết bị cho một số ngành nghề còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực hành của công nghệ mới. Đội ngũ giáo viên, dù có nỗ lực, nhưng số lượng còn mỏng, đặc biệt là giáo viên dạy các nghề kỹ thuật cao. Việc tổ chức các lớp học lưu động tại xã, thôn tuy linh hoạt nhưng gặp khó khăn trong việc vận chuyển thiết bị thực hành, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Đây là rào cản lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy nghề cho lao động nông thôn.

2.3. Tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo Con số thực tế

Đánh giá hiệu quả sau đào tạo nghề là một tiêu chí quan trọng. Giai đoạn 2016-2018, tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề đạt khoảng 70-80%, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Tuy nhiên, theo Biểu đồ 2.3 của luận văn, mức độ phù hợp của công việc hiện tại với nghề được đào tạo vẫn còn là một vấn đề. Nhiều lao động phải làm trái ngành, hoặc công việc chỉ đòi hỏi kỹ năng sơ cấp. Điều này cho thấy sự liên kết giữa đào tạo và tuyển dụng chưa thực sự chặt chẽ, gây lãng phí nguồn lực đầu tư cho công tác giải quyết việc làm.

III. Phương pháp tối ưu quản lý và chính sách đào tạo nghề LĐNT

Để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho LĐNT huyện Sơn Dương, việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước và các chính sách đào tạo nghề là giải pháp mang tính nền tảng. Cần tăng cường vai trò chỉ đạo của UBND huyện và sự phối hợp đồng bộ giữa các phòng, ban ngành, đặc biệt là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội. Việc triển khai Đề án 1956 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được giám sát chặt chẽ, đảm bảo nguồn kinh phí được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Một yếu tố quan trọng khác là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên. Cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, cập nhật kiến thức chuyên môn, kỹ năng sư phạm và am hiểu thực tiễn sản xuất cho đội ngũ này. Bên cạnh đó, các chính sách đào tạo nghề cần linh hoạt hơn, có cơ chế khuyến khích các nghệ nhân, kỹ sư, công nhân tay nghề cao tại các doanh nghiệp tham gia giảng dạy. Việc kiện toàn bộ máy quản lý và có chính sách hỗ trợ phù hợp sẽ tạo ra môi trường thuận lợi, thúc đẩy chất lượng dạy nghề cho lao động nông thôn phát triển bền vững.

3.1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ theo tinh thần Đề án 1956

Quyết định 1956/QĐ-TTg (hay Đề án 1956) là kim chỉ nam cho công tác đào tạo nghề LĐNT. Huyện Sơn Dương cần cụ thể hóa các chính sách đào tạo nghề trong đề án cho phù hợp với điều kiện địa phương. Cần rà soát, đơn giản hóa các thủ tục để người lao động, đặc biệt là hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, dễ dàng tiếp cận các chính sách hỗ trợ về học phí, chi phí sinh hoạt. Đồng thời, cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo bằng các ưu đãi về thuế, đất đai khi họ tiếp nhận học viên thực tập và tuyển dụng lao động sau đào tạo.

3.2. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên

Chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý quyết định trực tiếp đến thành công của chương trình đào tạo. Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng định kỳ về nghiệp vụ quản lý, phương pháp giảng dạy hiện đại và kiến thức về công nghệ mới. Thống kê tại Bảng 2.9 của luận văn cho thấy đội ngũ giáo viên của Trung tâm GDNN-GDTX huyện Sơn Dương cần được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Việc thu hút những người có tay nghề cao từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy là một giải pháp cần được đẩy mạnh để tăng tính thực tiễn cho các khóa học nghề ở Sơn Dương.

IV. Cách liên kết đào tạo nghề LĐNT với nhu cầu thị trường

Giải pháp đột phá để nâng cao hiệu quả sau đào tạo nghề là thực hiện đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp và nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Mô hình này đòi hỏi sự hợp tác ba bên chặt chẽ: Nhà nước - Cơ sở đào tạo - Doanh nghiệp. Trước hết, cần đẩy mạnh công tác điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp trên địa bàn và các khu vực lân cận. Dựa trên kết quả đó, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp sẽ xây dựng chương trình đào tạo phù hợp. Cần đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo, không chỉ tập trung vào các nghề nông nghiệp truyền thống mà cần mở rộng sang các nghề phi nông nghiệp có tiềm năng như cơ khí, điện tử, dịch vụ. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xây dựng chương trình, cử chuyên gia giảng dạy, tiếp nhận học viên thực tập và cam kết tuyển dụng sau tốt nghiệp. Mô hình liên kết đào tạo và tuyển dụng này sẽ đảm bảo đầu ra cho người học, giảm tỷ lệ thất nghiệp và giúp giải quyết việc làm một cách bền vững.

4.1. Xây dựng mô hình đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp tuyển dụng

Mô hình đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp là hướng đi hiệu quả. Huyện cần chủ động kết nối Trung tâm GDNN-GDTX với các doanh nghiệp lớn trên địa bàn và các khu công nghiệp lân cận. Hai bên cần ký kết các thỏa thuận hợp tác cụ thể, trong đó doanh nghiệp cam kết về số lượng lao động sẽ tuyển dụng sau mỗi khóa học. Chương trình đào tạo cần được thiết kế linh hoạt, có thể tổ chức một phần tại trung tâm và một phần tại nhà xưởng của doanh nghiệp. Điều này giúp học viên làm quen với môi trường làm việc thực tế, đồng thời doanh nghiệp có thể đánh giá và lựa chọn được nhân sự phù hợp ngay trong quá trình đào tạo.

4.2. Đa dạng hóa ngành nghề Nông nghiệp công nghệ cao và phi nông nghiệp

Sơn Dương có thế mạnh về nông, lâm nghiệp, vì vậy cần đào tạo các nghề phục vụ nông nghiệp công nghệ cao như kỹ thuật trồng trọt theo tiêu chuẩn VietGAP, chăn nuôi hiện đại. Bên cạnh đó, để phục vụ quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động, cần tập trung mạnh vào các nghề phi nông nghiệp. Các ngành nghề như may công nghiệp, hàn, điện dân dụng, sửa chữa xe máy, chế biến nông sản, du lịch cộng đồng... có nhu cầu nhân lực lớn. Việc đa dạng hóa ngành nghề giúp người lao động nông thôn Tuyên Quang có nhiều lựa chọn hơn, phù hợp với năng lực và sở thích của bản thân, đồng thời đáp ứng được nhu cầu đa dạng của xã hội.

V. Đánh giá hiệu quả sau đào tạo Từ thu nhập đến việc làm

Hiệu quả của công tác đào tạo nghề cho LĐNT huyện Sơn Dương được đo lường qua các tác động tích cực đến đời sống người lao động và sự phát triển chung của xã hội. Tiêu chí quan trọng nhất là sự thay đổi về thu nhập và khả năng giải quyết việc làm. Theo số liệu từ luận văn, tỷ lệ hộ gia đình có lao động sau học nghề tăng mức kinh tế đã cải thiện đáng kể. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy học nghề là con đường hiệu quả để xóa đói giảm nghèo bền vững. Bên cạnh đó, mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với chất lượng lao động qua đào tạo cũng là một thước đo quan trọng. Khi người lao động đáp ứng tốt yêu cầu công việc, họ không chỉ có việc làm ổn định mà còn góp phần nâng cao năng suất, sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đánh giá toàn diện, cần thường xuyên khảo sát, thu thập phản hồi từ cả người lao động và người sử dụng lao động để kịp thời điều chỉnh chương trình, đảm bảo hiệu quả sau đào tạo nghề ngày càng được nâng cao.

5.1. Tác động đến thu nhập và xóa đói giảm nghèo bền vững

Mục tiêu cuối cùng của đào tạo nghề là cải thiện đời sống người dân. Bảng 2.13 trong luận văn gốc cho thấy một tỷ lệ đáng kể các hộ gia đình đã thoát nghèo và vươn lên khá giả sau khi có thành viên tham gia học nghề và có việc làm ổn định. Thu nhập tăng giúp họ cải thiện điều kiện sống, đầu tư cho con cái học hành, và tái đầu tư sản xuất. Đây là yếu tố cốt lõi, khẳng định vai trò của đào tạo nghề trong chiến lược xóa đói giảm nghèo bền vững của huyện, góp phần xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an sinh xã hội.

5.2. Mức độ đáp ứng yêu cầu từ thị trường lao động thực tế

Theo khảo sát từ phía người sử dụng lao động (Bảng 2.14), lao động qua đào tạo nghề tại Sơn Dương có ý thức kỷ luật và kỹ năng cơ bản tốt hơn so với lao động phổ thông. Tuy nhiên, khả năng thích ứng với công nghệ mới và kỹ năng làm việc nhóm vẫn cần được cải thiện. Điều này cho thấy chương trình đào tạo cần cập nhật thường xuyên hơn nữa để bắt kịp yêu cầu của thị trường lao động. Việc tăng cường các kỹ năng mềm và thời lượng thực hành tại doanh nghiệp sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tế, nâng cao mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng.

12/10/2025
Luận văn thạc sĩ đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện sơn dương tỉnh tuyên quang

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 của Bộ Luật lao động năm 2012 quy định: “ Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [18,tr12]. Thực tế trong từng thời kỳ và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao động khác nhau. Ở Việt nam, độ tuổi lao động được quy định đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi, đối với nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi. Xét về khía cạnh việc làm, lực lượng lao động gồm hai bộ phận là có việc làm và thất nghiệp.

Lao động nông thôn LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn. LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông 9 thôn. Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất. Đào tạo nghề Một số tài liệu cho rằng: Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định.

Hay nói cách khác đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người lao động có thể thực hiện một công việc nào đó trong tương lai. Theo Bộ Lao động - TB&XH, khái niệm “Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội”. Luật Giáo dục nghề nghiệp được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2014 đưa ra khái niệm như sau: “ Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [19,tr1]. Luật cũng quy định có các cấp trình độ đào tạo là sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác; về hình thức dạy nghề được quy định bao gồm cả đào tạo nghề chính quy và đào tạo nghề thường xuyên.

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đối tượng của đào tạo nghề là lao động nói chung, đối tượng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn là những người lao động nông thôn. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người lao động nông thôn có được 10 một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn có những đặc điểm sau: Thứ nhất, do số lượng nguồn lao động nông thôn lớn nên đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn có số lượng lớn. Số lượng đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn lớn còn thể hiện ở chất lượng nguồn lao động nông thôn thấp.

Thực tế hiện nay, lực lượng lao động nông thôn được đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu hết các kiến thức, kinh nghiệm người lao động sử dụng đều thông qua sự đúc rút kinh nghiệm trong quá trình làm việc và sự truyền dạy lại của các thế hệ trước. Thứ hai, do tính đa dạng của đối tượng đào tạo, nên việc tổ chức các khóa đào tạo phải rất linh hoạt về chương trình đào tạo, hình thức đào tạo, phương thức đào tạo, phương pháp truyền đạt. Chương trình đào tạo phải gắn với học liệu sinh động, đa dạng và thiết thực, phù hợp với trình độ, hoàn cảnh của người học để tất cả người lao động nông thôn có cơ hội được đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ đó tìm việc làm và tạo việc làm có năng suất lao động cao hơn, nâng cao dần mức sống của người dân. Cần đa dạng hóa và phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng vùng miền như đào tạo tập trung tại các cơ sở, trung tâm dạy nghề đối với người lao động nông thôn chuyển đổi nghề nghiệp; đào tạo nghề lưu động cho lao động nông thôn làm nông nghiệp tại các làng, xã, thôn, bản; dạy nghề tại nơi sản xuất, tại hiện trường nơi người lao động làm việc.

Thứ ba, đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn có nguồn nội lực cho đào tạo nghề rất hạn chế. Đó là nơi GDP đầu người thấp, sản xuất hàng hóa ít phát triển, thị trường lao động ít phát triển, ít có khả năng tiếp cận với hệ thống giáo dục đào tạo, cơ sở hạ tầng kém phát triển, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân chưa đảm bảo, môi trường sống của dân cư nông thôn chậm cải thiện (giao thông, điện, nước sạch.), do đó điều kiện của họ 11 cho việc học nghề rất hạn hẹp, đặc biệt là học ở bậc cao và theo các hình thức trường lớp. Thứ tư, tính chất thời vụ của nguồn lao động nông thôn đòi hỏi việc tổ chức đào tạo nghề, tập huấn các kiến thức liên quan về trồng cây, vật nuôi cũng phải được sắp xếp phù hợp và kịp với thời vụ thì mới đạt hiệu quả cao. Việc đào tạo nâng cao nhận thức và các kiến thức khác không phụ thuộc vào thời vụ cần được tổ chức vào thời điểm nông nhàn để người dân có điều kiện tham gia đông đủ hơn.

Do tính thời vụ nên một bộ phận lớn người lao động nông thôn cần có thêm việc làm trong thời gian nông nhàn để tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Vì vậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần khuyến khích các hoạt động khuyến công (đặc biệt là tiểu thủ công nghiệp) và khuyến thương (thương mại và dịch vụ) nhằm giúp người lao động có thể kiếm thêm việc làm và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực lao động. Thứ năm, trong nông thôn, bên cạnh các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp thì hệ thống các tổ chức kinh tế như hộ thủ công truyền thống, các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, các tổ chức xã hội như hội lao động nông thôn, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, đặc biệt là các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư cũng đảm nhận chức năng đào tạo. Nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1.

Tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm cho lao động nông thôn Đào tạo nghề là nhu cầu thiết thực đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của xã hội. Được đào tạo nghề cơ bản, người lao động có nhiều cơ hội xin việc trong các môi trường làm việc chuyên nghiệp, thu nhập cao và cải thiện kinh tế gia đình. Tuy nhiên, vẫn không ít đơn vị, địa phương thiếu quan tâm và chưa chú trọng đến công tác đào tạo nghề; mặt khác, do người dân chưa hiểu hết về hiệu quả của việc học nghề vì vậy việc vận động người tham gia học nghề lại càng trở nên khó khăn. Nhưng với sự quyết tâm và vì lợi ích đời 12 sống người dân, cần xem công tác tuyên truyền tư vấn học nghề là nhiệm vụ chính trị quan trọng và giúp người dân có cách nhìn đúng đắn hơn về học nghề.

Mỗi địa phương trong cả nước cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tư vấn học nghề đối với lao động nông thôn, giúp người dân hiểu rõ tầm quan trọng của việc học nghề, để từ đó có ý thức chủ động, tự giác trong việc tham gia học nghề cũng như có sự lựa chọn nghề nghiệp với bản thân và nhu cầu của địa phương. Để công tác tuyên truyền có hiệu quả cần có sự phối kết hợp của các cơ quan tổ chức như: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; Đài phát thanh truyền hình huyện, các tổ chức hội (Hội Liên hiệp phụ nữ, Tỉnh đoàn thanh niên CSHCM, Hội Nông dân tỉnh…) 1. Xác định nhu cầu đào tạo nghề Nhu cầu đào tạo nghề là mong muốn được tham gia, được hiểu biết và thực hành về một hay một số nghề phù hợp với điều kiện của mỗi người lao động đó. Nó là cơ sở quan trọng để hệ thống cơ sở đào tạo, chuẩn bị các điều kiện đào tạo nghề như: Xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo, chuẩn bị các điều kiện vật chất, đội ngũ quản lý và giáo viên đào tạo nghề.

Nhu cầu đào tạo cũng có thể được tính toán từ việc xem xét điều kiện vật chất và con người có thể huy động cho đào tạo nghề với nhu cầu từ sự phát triển kinh tế - xã hội. Việc xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu xã hội và khả năng về các điều kiện có thể huy động là quy trình hợp lý nhất để xác định nhu cầu đào tạo nghề tại một quốc gia, một vùng, một địa phương trong thời gian nhât định. Xác định nhu cầu đào tạo nghề của mỗi địa phương, cần xác định nhu cầu của các bên liên quan, cụ thể từ phía người lao động hay người có nhu cầu học nghề khi tiến hành đào tạo nghề cần xem xét tới đối tượng của hoạt động đào tạo nghề, những người học nghề với nhu cầu thực sự của họ và các điều kiện của chính họ để có thể tham gia vào quá trình đào tạo nghề, xác định khoảng trống giữa 13 kiến thức, kỹ năng cần có khi tham gia lao động và những kiến thức, kỹ năng mà người học hiện có. Việc xác định nhu cầu đào tạo nghề cần tiến hành theo quy trình: - Xác định yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực, cả cơ cấu ngành nghề và cơ cấu trình độ.

- Phân tích, đánh giá đúng đắn nguồn lao động hiện có của địa phương, so sánh với yêu cầu về nhân lực, để từ đó xác định nhu cầu, lập kế hoạch bổ sung, đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho người lao động của địa phương. Xác định đối tượng đào tạo Lựa chọn đối tương đào tạo là một bước quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ