Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu - Chương 2. Thực trạng đào tạo của Trường Trung cấp nghề Bạc Liêu gắn với chương trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp tại tỉnh Bạc Liêu. Các biện pháp nâng cao gắn đào tạo với chương trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp tại tỉnh Bạc Liêu Cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm cơ bản: 1. Quản lý đào tạo Quản lý đào tạo là một lĩnh vực quản lý bao gồm tất cả những vấn đề mà cơ sở đào tạo thường làm và bằng cách đó cung cấp cho người học những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và năng lực nghề nghiệp có hiệu quả. Hay nói một cách khác, quản lý đào tạo bao gồm các lĩnh vực quản lý các mục tiêu cụ thể của các yếu tố sau: - Mục tiêu đào tạo.
- Nội dung đào tạo. - Phương pháp và hình thức đào tạo. - Nguồn nhân lực đào tạo (Giảng viên). - Đối tượng đào tạo (Sinh viên).
- Điều kiện đào tạo. - Quy trình tổ chức đào tạo, đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các chuẩn mực đảm bảo chất lượng đào tạo. Chất lượng đào tạo quyết định sự tồn vong của cơ sở đào tạo, nên người ta còn cho rằng quản lý đào tạo chính là quản lý chất lượng. Giáo dục đào tạo là một bộ phận của nền kinh tế xã hội.
Nó được cơ cấu thành hệ thống và là một bộ phận kết cấu hạ tầng của xã hội. Do đó quản lý giáo dục, quản lý đào tạo thực chất là quản lý một lĩnh vực kinh tế - xã hội đặc biệt nhằm đào tạo nguồn nhân lực lao động có trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao nhằm đảm bảo yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của một nền kinh tế - xã hội. Cơ sở lý luận để đổi mới quản lý đào tạo được hình thành từ việc đúc kết quá trình thực tiễn điều hành hoạt động đào tạo, kết hợp với lý luận quản lý kinh tế - xã hội. Đồng thời từ cơ sở lý luận đó lại tác động trở lại, để hình 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành chiến lược, chính sách phát triển, cơ cấu hệ thống quản lý đào tạo, mô hình quản lý các cấp.
Quản lý đào tạo có hai chức năng cơ bản: - Duy trì, ổn định quá trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo đạt được các chuẩn mực đã xác định trước. - Đổi mới, phát triển quá trình đào tạo, đón đầu xu hướng phát triển kinh tế - xã hội. Để thực hiện hai chức năng trên quản lý đào tạo cần: - Phân tích thông tin, nắm bắt được xu hướng phát triển, xác lập chính sách, mục tiêu chiến lược giáo dục - đào tạo. - Xác lập chuẩn mực, quy trình theo mục tiêu, tạo điều kiện và duy trì các cơ chế thực hiện các chuẩn mực đã đề ra.
- Đưa hoạt động đào tạo vào kế hoạch với mục tiêu, biện pháp, bước đi rõ ràng. - Hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với sứ mệnh, phù hợp với nhiệm vụ chính trị và thực hiện một quy trình đào tạo thích ứng với khả năng nguồn nhân lực của mình. - Thanh tra, kiểm tra các hoạt động đào tạo. Để làm rõ thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Trường Trung cấp nghề Bạc Liêu với các doanh nghiệp tại Bạc Liêu và đề xuất những biện pháp quản lý cho thời gian tới, chúng tôi sẽ lấy những yêu cầu trên làm cơ sở khảo sát, đánh giá về quản lý đào tạo.2 Đào tạo nghề: * Nghề: Theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định, cho đến nay thuật ngữ “Nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Dưới đây là một số khái niệm. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động của xã hội”. 6 Theo tác giả Nguyễn Hùng thì: “Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau.
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người”7 Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân. Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến, gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại. Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Ở Việt Nam: Nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống nhất, chẳng hạn có định nghĩa nêu: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được.
Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay nhu cầu xã hội. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể thấy 1 số nét đặc trưng nhất định đó là : + Đó là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại. 6 Từ điển Tiếng việt năm 1988, Nhà xuất bản khoa học xã hội. 7 Nguyễn Hùng chủ biên (2008), Sổ tay Tư vấn Hướng nghiệp và chọn nghề.
Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. + Là phương tiện để sinh sống. + Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.
Nghề biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước. * Đào tạo: Là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết. Như vậy đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hay một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn.
* Đào tạo nghề: Là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai. Đào tạo nghề bao gồm 2 quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau đó là: - Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền đạt những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. - Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn.
Bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng không phải là bản năng mà phải trải qua rèn luyện. Môi trường tốt nhất cho sự phát triển khả năng này ở học sinh trường nghề đó là họ phải được rèn luyện trong môi trường sản xuất của doanh nghiệp sau khi được học lý thuyết. Đây chính là trách nhiệm của toàn xã hội đối với công tác đào tạo nghề hiện nay, và cần phải nhấn mạnh, trách nhiệm trước hết là thuộc về lãnh đạo của các trường dạy nghề.
Chính bản thân họ phải ý thức được việc cần phải cải tổ công tác quản lý để không ngừng tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp trong liên kết đào tạo để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của đơn vị.2 Mối quan hệ giữa quản lý và chất lƣợng đào tạo nghề 1.1 Chất lượng và chất lượng đào tạo nghề. Chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi loại hình doanh nghiệp, các hệ thống kinh tế xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Đối với các doanh nghiệp chất lượng là chìa khoá và sự đảm bảo thắng lợi trong các cuộc cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo hiện nay cũng cạnh tranh gay gắt, thu hút người học và cung ứng sản phẩm sau đào tạo cho các thị trường lao động trong nước và xuất khẩu lao động ra nước ngoài.
Có nhiều khái niệm về chất lượng. Sau đây là một số khái niệm có thể xem xét. - Theo quan niệm của tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu: Chất lượng của sản phẩm là mức độ mà sản phẩm ấy đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng.Juran (Mỹ): Chất lượng là tiềm năng thoả mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất. - Theo ISO 8402 -86: Chất lượng của sản phẩm là tổng thể những đặc điểm, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định và phù hợp với công cụ, tên gọi sản phẩm.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5814 - 94: Chất lượng là sự tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đối tượng có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn. - Tại hội thảo lần 3 “Nâng cao chất lượng đào tạo” - Đại học quốc gia Hà Nội, tác giả Lê Đức Ngọc cho rằng : Chất lượng đào tạo thể hiện chính qua năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương trình đào tạo.