CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về đào tạo nghề Đào tạo: là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm mục đích truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực hành, đồng thời tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp cần thiết.
Kết quả của quá trình đào tạo là người học đạt được trình độ chuyên môn, nghề nghiệp theo quy định và được cấp bằng tương ứng. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của người học, tạo cho người học khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn (Nguyễn Chí Trường, 2012). Đào tạo nghề: hiện nay, có nhiều định nghĩa về đào tạo nghề (còn được gọi là dạy nghề): Tổ chức LĐ quốc tế (ILO - International Labour Organization) có định nghĩa “Đào tạo nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các công việc liên quan đến nghề nghiệp họ được giao”. Theo Luật Đào tạo nghề năm 2006 thì: “Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”.
Theo Luật giáo dục nghề nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2014 thì khái niệm về Đào tạo nghề được đổi thành cụm từ “đào tạo nghề nghiệp” và theo khoản 2, Điều 3 Luật giáo dục nghề nghiệp. Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc 7 làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Theo Luật Giáo dục năm 2019, tiểu mục 3, điều 35, điều 36 đưa ra khái niệm: Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người học, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; Giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học trình độ cao hơn Mục tiêu đào tạo nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng đi tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là: - Hoạt động đào tạo nghề: Là quá trình giảng viên truyền thụ những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp.
- Hoạt động học nghề: là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người LĐ để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Như vậy có thể thấy, về cơ bản khái niệm đào tạo nghề và dạy nghề không có sự khác biệt nhiều về nội dung. Đào tạo nghề phục vụ cho mục tiêu phát triển KT - XH, trước hết là phương hướng phân công lao động mới, tạo 8 cơ hội cho mọi người đều được học tập nghề nghiệp để dễ dàng tìm kiếm việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn. Theo tác giả thì khái niệm đào tạo nghề định nghĩa như sau: Đào tạo nghề là hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người lao động để họ có thể hành nghề hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học để kiếm thu nhập.
Phân loại các hình thức đào tạo nghề a. Căn cứ vào nghề đào tạo với người học - Đào tạo mới: đây là hình thức đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có chuyên môn, chưa có nghề (đào tạo mới để đáp ứng yêu cầu tăng thêm LĐ có nghề cho xã hội). - Đào tạo lại: là quá trình đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật, dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn. Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người LĐ có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề.
- Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người LĐ có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn. Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn. Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề - Đào tạo nghề dưới 3 tháng: được thực hiện từ 01 đến dưới 03 tháng. Theo các chuyên gia, thời gian tối thiểu để có thể truyền đạt kiến thức và kỹ năng nghề đơn giản cũng phải cần tối thiểu 1 tháng.
Kết thúc khóa học, người học được cấp chứng chỉ nghề. - Đào tạo nghề trình độ SCN: được thực hiện từ 03 tháng đến dưới 01 năm. 9 Đào tạo nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề. Kết thúc khóa học nghề, người học được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề.
- Đào tạo nghề trình độ TCN: được thực hiện từ 01 đến 02 năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THPT; từ ba đến bốn năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THCS. Đào tạo nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc. Kết thúc khóa học nghề, người học được cấp bằng tốt nghiệp TCN (Bùi Tôn Hiến, 2010). - Đào tạo nghề trình độ CĐN: được thực hiện từ 02 đến 03 năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THPT; từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp TCN cùng ngành nghề đào tạo.
Đào tạo nghề trình độ CĐN nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế. Kết thúc khóa học nghề, người học được cấp bằng tốt nghiệp CĐN. Hệ thống tổ chức đào tạo nghề a. Trường Cao đẳng Nhiệm vụ chủ yếu của trường cao đẳng là tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ CĐN, TCN và SCN nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường LĐ.
Trường Trung cấp nghề 10 Nhiệm vụ chủ yếu của trường TCN là tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở trình độ TCN, sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. Trung tâm đào tạo nghề Nhiệm vụ chủ yếu của trung tâm đào tạo nghề là tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở trình độ sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề. Cơ sở khác có tham gia đào tạo nghề Bao gồm các trường đại học, trường cao đẳng, các trung tâm khác như trung tâm giới thiệu việc làm, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp…, các DN có tham gia hoạt động đào tạo nghề và đủ điều kiện được cấp giấy phép đào tạo nghề theo quy định. Lao động nông thôn Theo một số tài liệu ILO, “Lực lượng lao động được hiểu là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm’’.
Khái niệm về nông thôn khác nhau ở mỗi quốc gia, nó phụ thuộc vào từng thời kỳ lịch sử và tiến trình phát triển KT - XH của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Ở những nước đang phát triển, việc phân biệt nông thôn với đô thị chưa thể tách bạch hoàn toàn, một số nơi khu vực nông thôn diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh chóng nhưng vẫn còn có sự xen lẫn về đất đai, địa bàn dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội (VD: ở các thị tứ, thị trấn). Hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm 11 nông thôn. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị.