Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các lý thuyết liên quan về vốn con người, mô hình quyết định đi học, các nghiên cứu liên quan, các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và chuyển đổi nghề của lao động nông thôn.
Phương pháp và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày nguồn dữ liệu, chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp phân tích số liệu, mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày tổng quan mẫu nghiên 4 cứu, kiểm định sự khác biệt giữa hai nhóm tham gia và đối chứng, đánh giá tác động của đào tạo nghề đến việc làm và chuyển đổi nghề của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Chương 5.
Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày những kết quả mà đề tài đạt được, các hàm ý chính sách nhằm giúp lao động nông thôn nâng cao khả năng tìm kiếm việc làm, cải thiện đời sống, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. LÝ THUYẾT VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 2.
Một số khái niệm 2. Nghề và đào tạo nghề Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để có thể thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định (Giáo trình Kinh tế lao động, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2002). Theo Luật dạy nghề 2006, Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn, chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất như: thực phẩm, lương thực, công cụ lao động hoặc giá trị tinh thần như: sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ.
Với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển xã hội. Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả công việc chuyên môn. Luật giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH2013 ngày 27/11/2014 cho rằng đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học, nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.
6 Luật dạy nghề năm 2006, định nghĩa: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Có thể thấy, về cơ bản đào tạo nghề và dạy nghề không có sự khác biệt về nội dung. Đào tạo nghề phục vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội, trước hết là phương hướng phân công lao động mới, tạo cơ hội cho mọi người đều được học tập nghề nghiệp để dễ dàng tìm kiếm việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn. Lao động và lao động nông thôn Lao động trước hết là quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.
Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn. Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn. Đặc điểm của lao động nông thôn Do lao động nông thôn sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên có thể thấy lao động nông thôn có một số đặc điểm sau: Lao động nông thôn có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi. Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất và thu nhập của lao động nông nghiệp.
Do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục. 7 Lao động nông thôn có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khác nhau. Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động. Thu nhập của người lao động nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.
Trình độ lao động nông thôn thấp, khả năng tổ chức sản xuất kém, ngay thực tế cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các ngành kinh tế khác. Ý nghĩa của đào tạo nghề Ý nghĩa về phát triển kinh tế: Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta còn khoảng 30% lao động làm nông nghiệp, còn lại chuyển sang ngành nghề phi nông nghiệp. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là việc làm thiết thực góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng, tay nghề và giải quyết việc làm cho họ. Bên cạnh đó đào tạo nghề cho lao động nông thôn sẽ huy động được tối đa lực lượng lao động của xã hội và phát triển kinh tế-xã hội.
Phát triển lực lượng lao động thông qua đào tạo sẽ phát huy được năng lực, sở trường của từng người lao động và nhờ vậy hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Qua đó, góp phần thành công vào các chương trình xoá đói, giảm nghèo. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng được những đòi hỏi về kỹ năng, công nghệ, về quản lý trong thời đại bước sang nền kinh tế tri thức; đáp ứng được nhu cầu hội nhập được kinh tế thế giới và toàn cầu hoá nền kinh tế và góp phần quan trọng vào nền kinh tế quốc dân. Ý nghĩa về chính trị-xã hội: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” của Đảng và Nhà nước ta.
Dân muốn giàu trước hết phải có việc làm, sau đó là chất lượng việc làm ngày một nâng cao, thu nhập của người lao động ngày một tăng. 8 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn góp phần nâng cao trí tuệ, chất lượng lao động, làm giảm tệ nạn xã hội. CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Lý thuyết về vốn con người Theo Becker (1967), học được xem là một quyết định đầu tư tối ưu hóa.
Giáo dục sẽ làm tăng năng suất của các cá nhân, và công nhân có tay nghề cao hơn sẽ được trả lương cao hơn, nếu thị trường lao động là hoàn hảo và lao động được trả lương theo giá trị biên của nó. Nhận định này được Becker (1967) nghiên cứu ở 21 quốc gia OECD từ 1991 đến 2005, từ kết quả hồi quy ông nhận định thu nhập tăng lên rõ ở Ireland, Bồ Đào Nha và Canada trong những năm 2000. Mincer (1974) cho rằng, cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư để tích lũy thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi người, và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập. Mức vốn con người được tích lũy nhiều hay ít tương ứng với năng lực, lượng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà mỗi người nhận được từ quá trình học tập, đào tạo và lao động.
Chúng thường được biểu hiện qua số năm đi học và số năm từng trải trên thị trường lao động. Becker (1993), khẳng định không có đầu tư nào mang lại lợi nhuận lớn hơn như đầu tư vào con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Vốn con người là sự tích lũy đầu tư trước đó vào giáo dục, đào tạo, sức khỏe và những nhân tố khác để làm tăng năng suất lao động. Bất kỳ hoạt động nào làm tăng năng suất lao động đều được xem là đầu tư vào vốn con người.
Đầu tư vào vốn con người không chỉ những chi phí cho giáo dục và đào tạo chính thức mà còn cả về sức khỏe, cho di cư, tìm việc và chăm sóc trẻ trước khi đi học. Về mặt lợi ích cá nhân, người có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao hơn có thu nhập cao hơn; người có kinh nghiệm, thâm niên công tác cao hơn có mức thu nhập cao hơn; người có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao hơn ít bị thất nghiệp hơn. Borjas (2005) cho rằng, người lao động quyết định học ngành nghề gì và đến mức nào giống như đưa ra quyết định đầu tư gắn với giả thiết cơ bản trong kinh tế 9 học – mọi người đều tối đa hóa lợi ích. Quyết định đầu tư vào giáo dục cũng giống như quyết định đầu tư vào vốn hữu hình khi đó người ta phải xem xét dòng thu nhập quy về giá trị hiện tại ròng giữa các phương án khác nhau, đi học ngành nghề nào đó hay không đi và giữa các ngành nghề với nhau.
Phương án đi học và học ngành nghề nào sẽ được lựa chọn khi nó đem tới dòng thu nhập cao nhất có thể.Mô hình quyết định đi học Nguyễn Bác Ngọc (2008) cho rằng, khi tham gia học tập, chúng ta phải trả mức phí trước mắt và thu lợi từ các dòng thu nhập cao hơn trong tương lai.