phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đào tạo cán bộ, công chức cấp cấp xã, phƣờng tỉnh Trà Vinh. Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo cán bộ, công chức cấp xã, phƣờng là ngƣời Khmer ở tỉnh Trà Vinh. Chƣơng 3: Định hƣớng và một số giải pháp để đào tạo cán bộ, công chức cấp xã, phƣờng là ngƣời Khmer ở tỉnh Trà Vinh. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, hội thảo, các bài viết về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực hành chính công, đáng chú ý là một số công trình sau: Đề tài khoa học: "Các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nƣớc ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay" của Học viện Hành chính Quốc gia, do Giáo sƣ, Tiến sĩ Bùi Văn Nhơn làm chủ nhiệm, đã đề cập vị trí, vai trò của đội ngũ công chức hành chính trong bối cảnh CNH-HĐH đất nƣớc Luan van 7 đang diễn ra mạnh mẽ với những thời cơ, vận hội và thách thức mới đang nảy sinh, đòi hỏi công tác cán bộ phải có những chuyển biến mới.
Đề tài khoa học “ Xây dựng đội ngũ cán bộ ngƣời dân tộc Khmer ở các cơ sở xã, phƣờng, thị trấn khu vực Tây Nam Bộ” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, do Nguyễn Thái Hòa chủ biên, chủ tịch Hội đồng chỉ đạo xuất bản, Tiến sĩ Nguyễn Thế Kỷ. Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học Ban Đảng do Vụ Địa phƣơng III thuộc Ban Tổ chức Trung ƣơng thực hiện, nội dung đề tài tập trung đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ ngƣời dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị ở cơ sở xã hiện nay; xây dựng mô hình cán bộ ngƣời dân tộc Khmer phù hợp yêu cầu nhiệm vụ đặt ra từ đó đề ra phƣơng hƣớng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ này theo tiêu chuẩn của từng chức danh, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ đó ở Tây Nam Bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở từng địa phƣơng trong giai đoạn mới. Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng đã hoàn thành Đề tài "Giải pháp quản lý và phát triển đội ngũ CB,CC,VC của thành phố Đà Nẵng đến năm 2015", trong đó xác định vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức và yêu cầu của tiến trình cải cách hành chính, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; hệ thống hóa thể chế quản lý và đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của Thành phố; dự báo các yêu cầu đối với công tác quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức từ nay đến năm 2015; đề xuất các giải pháp phục vụ cho việc hoạch định các chính sách, thực hiện các biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của Thành phố. "Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho một số ngành kinh tế-kỹ thuật và ngành công nghệ cao trên địa bàn thành phố Đà Nẵng" là đề tài khoa học do Phó giáo sƣ, Tiến sĩ Võ Xuân Tiến, Đại học Đà Nẵng làm chủ nhiệm, đã làm rõ một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực, chất lƣợng nguồn nhân lực và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực.
Luận giải một Luan van 8 cách khoa học nguồn nhân lực chất lƣợng cao là động lực cho quá trình CNH- HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế trí thức ở Việt Nam. Khảo sát, nghiên cứu thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực ở thành phố Đà Nẵng, làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của chất lƣợng nguồn nhân lực đó, đƣa ra những giải pháp khả thi nhằm khắc phục những hạn chế về mặt chất lƣợng nguồn nhân lực, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực cho một số ngành kinh tế-kỹ thuật và ngành công nghệ cao tại Thành phố. Phó giáo sƣ, Tiến sĩ Võ Xuân Tiến cũng đã hoàn thành đề tài khoa học: "Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính cấp quận (huyện), phƣờng (xã) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng", trong đó đã đánh giá hiện trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện có trong các cơ quan hành chính cấp quận (huyện), phƣờng (xã) trên địa bàn Thành phố. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp có tính khoa học, khả thi để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đủ sức hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Thành phố theo yêu cầu hiện nay.
Tại tỉnh Trà Vinh, đến nay vẫn chƣa có một công trình nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực hành chính công tập trung về cán bộ công chức cấp xã, phƣờng, thị trấn là ngƣời dân tộc Khmer một cách có hệ thống và toàn diện dƣới góc độ kinh tế phát triển. Luan van 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ PHƢỜNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ PHƢỜNG 1. Khái niệm chung về cán bộ, công chức ở Việt Nam a.
Khái niệm cán bộ: Khái niệm "cán bộ" đƣợc sử dụng khá lâu tại các nƣớc xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực nhà nƣớc và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Thuật ngữ khi đó thƣờng dùng là "cán bộ, công nhân viên chức", bao quát tất cả những ngƣời làm công hƣởng lƣơng từ nhà nƣớc, kể từ những ngƣời đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ nhƣ lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ. Ở nƣớc ta từ "cán bộ" đƣợc du nhập vào từ Trung Quốc và đƣợc dùng phổ biến trong thời kháng chiến chống Pháp. Ban đầu, từ này đƣợc dùng nhiều trong quân đội để phân biệt chiến sĩ và cán bộ, chỉ những ngƣời làm nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở lên.
Dần dần, từ "cán bộ" đƣợc dùng để chỉ tất cả những ngƣời hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với nhân dân. Trong tiếng Pháp cũng nhƣ tiếng Anh, từ cán bộ có nhiều nghĩa. Tựu trung có hai nghĩa chủ yếu đƣợc chuyển vào từ cán bộ của Nhật, Trung Quốc và Việt Nam. Nghĩa thứ nhất là cái khung (ảnh) cái khuôn, nghĩa thứ hai là ngƣời nòng cốt, những ngƣời chỉ huy trong quân đội, trong một tổ chức làm thành một nòng cốt.
Ở nƣớc ta, theo cách hiểu thông thƣờng, cán bộ đƣợc coi là tất cả những ngƣời thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, quân đội. Trong quan niệm hành chính, cán bộ coi nhƣ những ngƣời có mức Luan van 10 lƣơng từ cán sự (cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lƣơng thấp hơn cán sự. Trong từ điển tiếng Việt, cán bộ đƣợc định nghĩa là: Ngƣời làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nƣớc, Đảng và Đoàn thể. Ngƣời làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với ngƣời không có chức vụ.
Ngày nay, khái niệm cán bộ dùng để chỉ những ngƣời đƣợc biên chế vào làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, doanh nghiệp nhà nƣớc và sĩ quan trong lực lƣợng vũ trang. Ngoài ra, cán bộ đƣợc coi là những ngƣời có chức vụ, vai trò nòng cốt trong một cơ quan, tổ chức, có tác động ảnh hƣởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức và liên quan đến vị trí lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần quyết định xu hƣớng phát triển của cơ quan, tổ chức. Cho đến nay, từ cán bộ đã đƣợc dùng nhiều nghĩa khác nhau. Trong tổ chức Đảng và đoàn thể, từ cán bộ đƣợc dùng với hai nghĩa: Một là, dùng để chỉ những ngƣời đƣợc bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cấp cơ sở đến Trung ƣơng (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt đảng viên thƣờng, đoàn viên, hội viên; Hai là, những ngƣời làm công tác chuyên trách có hƣởng lƣơng trong các tổ chức đảng và đoàn thể.
Trong quân đội là những chỉ huy từ tiểu đội trở lên (cán bộ tiểu đội, cán bộ trung đoàn,.vv) là sĩ quan từ cấp úy trở lên. Trong hệ thống Nhà nƣớc, từ cán bộ đƣợc hiểu cơ bản là trùng với từ công chức, chỉ những ngƣời làm việc trong cơ quan Nhà nƣớc thuộc ngành hành chính, tƣ pháp, kinh tế, văn hoá - xã hội. Đồng thời, cán bộ cũng đƣợc Luan van 11 hiểu là những ngƣời có chức vụ chỉ huy, phụ trách, lãnh đạo (trƣởng, phó phòng, ban, vụ, cục vv…) Dù cách dùng, cách hiểu trong các trƣờng hợp, các lĩnh vực cụ thể có khác nhau, nhƣng về cơ bản, từ cán bộ bao hàm nghĩa chính của nó, là nòng cốt, là chỉ huy. Nhƣ vậy, có thể quan niệm một cách chung nhất, “cán bộ là khái niệm chỉ những ngƣời có chức vụ, vai trò và cƣơng vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hƣởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hƣớng sự phát triển của tổ chức” [15, tr.
Khái niệm công chức Trong khoa học hành chính khái niệm công chức chƣa tìm thấy đƣợc một định nghĩa chung cho tất cả các mô hình hành chính. Vì vậy theo tài liệu so sánh hành chính các nƣớc ASEAN do Giáo sƣ Đoàn Trọng Truyến chủ biên, khi đề cập đến phạm vi công chức trong các mô hình công vụ công chức trên thế giới đã đƣa ra nhận định: Công chức là một khái niệm mang tính lịch sử. Nội dung của nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của mỗi quốc gia và vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể, vì vậy không có một định nghĩa chung về công chức cho tất cả các quốc gia. Thậm chí ngay trong một quốc gia, ở từng thời kỳ phát triển khác nhau, thuật ngữ này cũng mang những nội dung khác nhau [30, tr.
Cũng vì thế mà ở Việt Nam mỗi thời kỳ khác nhau khái niệm công chức đƣợc định nghĩa khác nhau. Theo điều 1 Quy chế công chức ban hành bởi sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, đã quy định công chức là: “Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở Luan van 12 trong hay ngoài nƣớc, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trƣờng hợp riêng do Chính phủ quy định”. Trong tài liệu về hành chính Nhà nƣớc, PGS.