đặt vấn đề QLRBV trong hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn của ISO 14001 [15]. Hiện nay, trên thế giới đã có một bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững cấp quốc gia như: Canada, Thụy Điển, Malaysia, Indonesia,… và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal. Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức gỗ nhiệt đới đã có bộ tiêu chuẩn “Những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng (P&C)” đã được công nhận và được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và các tổ chức cấp chứng chỉ rừng đều dùng bộ tiêu chí này để đánh giá tình 6 trạng quản lý rừng và xét cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho các chủ rừng [17]. Một hội nghị lần thứ 18 được tổ chức vào tháng 8/1998 tại Hà Nội của các nước trong khu vực Đông Nam Á với mục đích thỏa thuận về đề nghị của Malaysia về xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số về QLRBV ở vùng ASEAN (viết tắt là C&I ASEAN).
Thực chất của việc xây dựng bộ tiêu chí này cũng giống như bộ tiêu chí và chỉ số về QLRBV của ITTO, bao gồm 7 tiêu chí và cũng chia ra làm 2 cấp quản lý là cấp quốc gia và cấp đơn vị quản lý [7]. Hiện nay, ở các nước đang phát triển thì việc quản lý rừng theo hình thức lâm nghiệp xã hội đang là một mô hình được đánh giá cao trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Với mục đích quản lý rừng bền vững, các khu bảo vệ (protected areas) được thành lập ngày càng nhiều, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm tới việc quản lý bền vững các khu bảo vệ. Nhiều chính sách và giải pháp được đưa ra nhằm thực hiện quản lý rừng theo hướng bền vững.
Năm 1996, tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và Mgahinga Gorilla thuộc Uganda, Wild và Mutebi đã nghiên cứu giải pháp quản lý, khai thác bền vững một số lâm sản và quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên giữa Ban quản lý vườn và các cộng đồng dân cư. Theo Shuchenmann (1999), tại Vườn quốc gia Andringitra của Madagascar, để thực hiện quản lý rừng bền vững, chính phủ đảm bảo cho người dân được quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi để sử dụng tại chỗ, cho phép giữ gìn những trật tự truyền thống khác như có thể giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng. Ngược lại, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực. Theo Báo cáo của Oli Krishna Prasad 91999), tại khu bảo tồn Hoàng Gia Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm 7 được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên rừng vùng đệm phục vụ cho du lịch.
Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài ngyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng [21]. Trong báo cáo “Hợp tác quản lý với người dân ở Nam Phi – Phạm vi vận động” của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed (2000) đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững tại Vườn quốc gia Richtersveld chủ yếu dựa trên hương ước (Contractual Agreement) quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, trong đó người dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh học trên địa phận của mình còn chính quyền và ban quản lý hỗ trợ người dân xây dựng hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội khác. Tại vườn quốc gia Kruger của Nam Phi (2000), chính phủ đã trao quyền sử dụng đất đai, chia sẻ lợi ích từ du lịch cho người dân, ngược lại người dân phải tham gia quản lý và bảo vệ rừng tại Vườn quốc gia. Tại Nê Pan, Subedi, 1991 [23] và cộng sự đã sử du ̣ng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) để nghiên cứu quản lý cây và đất đai tại hai cộng đồng nông thôn ở miền Đông Terai (vùng thấp).
Nghiên cứu được thiết kế nhằm góp sức vào việc phát triển lợi tức và công việc làm ăn thông qua dự án do cơ quan phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) và FAO tài trợ. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiển cộng đồng quản lý của thôn xã, tầm quan trọng của việc thu hút người dân sử dụng tài nguyên và những nhóm sử dụng trực tiếp tham gia vào việc phát triển, cách giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên và công bằng xã hội được thảo luận.A, 1999 [19] lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém hiệu quả của các chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa phương và lợi ích quốc gia, do đó chưa phát huy được nội lực 8 của các cộng đồng để quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng. Vì vậy, quản lý tài nguyên rừng cần phát triển theo hướng kết hợp hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống nhất lợi ích của người dân và lợi ích Quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng. và McGean, Bo(eds), 1993 [22] trong báo cáo “liên minh cộng đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại vườn quốc gia Dong Yai nằm ở Đông Bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía Bắc Thái Lan.
Tại Dong Yai người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái và phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực. Tại Nam Sa cộng đồng người dân cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng định nếu Chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực thì họ chắc chắ n sẽ thành công trong việc kiểm soát tài nguyên. Các mô hình quản lý bền vững các khu bảo vệ được nêu trên đã góp phần quan trọng trong quản lý bền vững tài nguyên rừng.
Chúng đã đưa ra được một số chính sách như chia sẻ lợi ích, hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội,… và một số giải pháp như đồng quản lý, quản lý có sự tham gia của người dân,… Tuy nhiên, các mô hình trên chỉ phù hợp với một số quốc gia và khu bảo vệ có tiềm năng du lịch, tài nguyên, đất đai phù hợp.2 Ở Việt Nam Ở Việt Nam với 3/4 diện tích là đồi núi, do vậy rừng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của người dân, đặc biệt là người dân miền núi. Rừng không chỉ có vai trò cung cấp lương thực, thực phẩm, dược liệu,… ngoài ra rừng còn có vai trò điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, 9 hạn chế thiên tai lũ lụt,… Rừng còn gắn chặt với các hoạt động xã hội, phong tục tập quán của người dân miền núi. Sự tàn phá của chiến tranh, sự gia tăng dân số và những chính sách khai thác quá mức rừng tự nhiên mà không quan tâm tới phục hồi bảo vệ của nước ta trong quá khứ là nguyên nhân chính làm cho diện tích rừng tự nhiên nước ta liên tục suy giảm trong những năm qua. Hậu quả của nó để lại là độ che phủ của rừng bị suy giảm nghiêm trọng từ 43% năm 1945 xuống tới 28,2% vào năm 1995 và kéo theo đó là các chức năng phòng hộ môi trường rừng không được giữ vững gây ra xói lở đất, hạn hán, lũ lụt, tài nguyên đa dạng sinh học suy giảm, nhiều loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.
Đứng trước thực trạng khó khăn đó, trong những năm gần đây sự nỗ lực của nhà nước với nhiều chính sách đổi mới, nhằm khôi phục lại diện tích rừng đã mất, tăng nhanh độ che phủ, phủ xanh đất trống đồi núi trọc chính phủ đã thực hiện hàng loạt các chương trình, dự án trọng điểm như Dự án 327 và sau đó là dự án 661 được thực hiện từ năm 1998 - 2010 và kết quả đã nâng độ che phủ trên phạm vi cả nước lên 38,7% vào năm 2008 (Cục Lâm nghiệp, 2009). Trước những biến đổi mạnh mẽ của môi trường và hiểm họa sinh thái có thể xảy ra thì việc quản lý rừng bền vững ngày càng trở nên quan trọng. Phần lớn các chương trình, dự án quốc tế hỗ trợ ngành lâm nghiệp hiện nay đều hướng vào QLRBV. Những chương trình phát triển lâm nghiệp lớn của Nhà nước như chương trình 327, 733, 661,…đều xem QLRBV là một trong những mục tiêu quan trọng.
Lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế phát triển không chỉ nhờ vào khả năng cung cấp hàng hoá lâm sản mà còn nhờ vào khả năng các hàng hoá và dịch vụ về môi trường đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế. 10 Theo tài liệu trong Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp Viê ̣t Nam giai đoa ̣n 2006-2020 [2], trước năm 1945 quản lý lâm nghiệp được tổ chức theo hạt. Ranh giới hạt lâm nghiệp không phụ thuộc nhiều vào ranh giới hành chính tỉnh, huyện mà là đơn vị quản lý nhà nước trong một lãnh thổ có rừng, có chức năng thừa hành pháp luật. Trong thời kỳ này, toàn bộ rừng nước ta là rừng tự nhiên đã được chia theo các chức năng để quản lý, sử dụng như sau: + Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt, nhà nước thực dân chưa có khả năng quản lý, người dân được tự do sử dụng lâm sản, đốt nương làm rẫy.
Việc khai thác sử dụng lâm sản đang ở mức tự cung tự cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hoá. + Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở những vùng có dân cư và đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản. Những diện tích rừng này được chia thành các đơn vị như khu, từ khu được chia thành các lô khai thác và theo chu kỳ, sản lượng do hạt trưởng lâm nghiệp quản lý, đấu thầu khai thác. + Rừng cấm: Là những diện tích rừng sau khai thác, cần được bảo vệ để tái sinh trong cả chu kỳ theo vòng quay điều chế, cũng có thể là khu rừng có tác dụng đặc biệt cần được bảo vệ [10].