Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận.
Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai. Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng.
Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất. Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra.Buringh, toàn bộ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp của thế giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào sản xuất nông nghiệp. Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng có khả năng trồng trọt. Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt).
Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác. Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều. Châu Á là nơi có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng Châu Á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp. Mặt khác, Châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Châu Á cũng là nơi đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích.
Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 4 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á. Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại. Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho loài người. Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm.
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt. Từ số liệu của UNDP năm 1995 [22] cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất về diện tích đất canh tác trên đầu người trong số các quốc gia ASEAN. Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của Việt Nam Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp… [31]. Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2009, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.100 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 9.800 ha, dân số là 85.573 người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1118 m2/ người.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm. Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theo những tư liệu của Tổng cục Thống kê thì biến động về số lượng đất sản xuất nông nghiệp của nước ta trong 10 năm gần đây được thể hiện ở bảng 1.1: Biến động về sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam (1999 -2009) Tổng diện tích đất BQ đất sản xuất Dân số Năm sản xuất nông nghiệp nông nghiệp/ người (1000 người) (1000 ha) (m2) 1999 9409,70 67774,1 1388 2000 9752,00 69405,2 1405 2001 9979,70 71025,6 1405 2002 10381,40 72509,5 1432 2003 10496,90 73962,4 1419 2004 10928,90 75355,2 1540 2005 11316,40 76114,5 1475 2006 11704,80 76325,0 1533 2007 10560,80 76985,6 1372 2008 9345,53 77685,2 1203 2009 9589,80 85789,6 1118 Theo Nguyễn Đình Bồng (2002) [9], đất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng. Đây là tỷ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục cho các mục đích khác nhau. So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào sản xuất nông nghiệp rất thấp.
Theo Lê Thái Bạt thì trong khoảng 33 triệu ha đất tự nhiên của Việt Nam, diện tích “đất có vấn đề” về độ phì nhiêu và khả năng sản xuất đã chiếm hơn 50%. Về vấn đề sử dụng đất, hiện nay tài nguyên đất ngày càng được sử dụng hợp lý và có hiệu quả hơn so với các năm trước. Ở nước ta, trong cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp, cây lâu năm chiếm hơn 30%, cây hàng năm khoảng trên 60% diện tích. Tuy nhiên, với trên 3/4 diện tích tự nhiên là đất dốc thì tỷ lệ cây lâu năm cần 6 phải tăng hơn nữa.
Tuy nhiên, ở miền núi du canh, quảng canh, độc canh còn khá phổ biến, năng suất cây trồng thấp so với các nước khác [6]. Vấn đề thoái hoá đất Việt Nam đang là một thách thức to lớn. Nguyên nhân thoái hoá đất bắt nguồn từ các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hậu quả của chiến tranh. Thoái hoá đất điễn ra trên quy mô rộng lớn từ đồng bằng ven biển đến trung du miền núi.
Hậu quả thoái hoá đất rất nghiêm trọng dẫn tới sự suy thoái tài nguyên động thực vật, suy giảm và mất khả năng sản xuất của đất. Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng tài nguyên đất bền vững và đã đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên các chính sách, giải pháp đó chưa được thực hiện đồng bộ và triệt để, mạng lưới quan trắc và quản lý môi trường đất còn quá mỏng. Để bảo vệ môi trường đất, cần khắc phục các tồn tại đồng thời áp dụng các biện pháp ưu tiên như: + Nghiên cứu và phổ biến công nghệ tiến bộ trong sinh học, đầu tư thâm canh, đảm bảo sản xuất bền vững nâng cao độ phì nhiêu đất.
+ Đẩy mạnh trồng cây lâu năm (cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây đặc sản) có giá trị kinh tế cao trên đất dốc, nhân rộng các mô hình trang trại. Phục hồi lớp phủ thực vật bằng trồng rừng và hệ thống nông lâm kết hợp. Việt Nam là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại to lớn. Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 1. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 1. Bản chất của hiệu quả Bản chất của hiệu quả được hiểu như sau: - Việc đáp ứng nhu cầu của con người trong đời sống xã hội. - Việc bảo tồn tài nguyên, nguồn lực để phát triển lâu bền.
7 Do vậy, hiệu quả là một phạm trù trọng tâm rất cơ bản của khoa học kinh tế và quản lý. Việc xác định hiệu quả là việc hết sức khó khăn và phức tạp mà nhiều vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn chưa giải đáp hết. Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Muốn vậy, sản xuất phải không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Việc nâng cao hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp, mỗi người sản xuất mà là của mọi ngành, mọi vùng. Đây còn là vấn đề mang tính toàn cầu, vì xu hướng chung của thế giới ngày nay là phát triển kinh tế theo chiều sâu, sao cho với nguồn nhân lực hạn chế mà sản xuất ra một lượng sản phẩm hàng hoá có giá trị sử dụng cao nhất với mức hao phí ít nhất. Ngày nay, chúng ta đang sống trong một "Thế giới phẳng" nên con người ngày càng nhận thức được các quy luật tự nhiên, kinh tế- xã hội và môi trường. Trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế mở như hiện nay thì mọi hoạt động sản xuất của con người không chỉ quan tâm đến vấn đề kinh tế - xã hội mà vấn đề môi trường ngày càng trở nên cấp bách đối với toàn cầu, đòi hỏi mỗi quốc gia phải quan tâm đúng mức.
Quan niệm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ được môi trường. Phân loại hiệu quả Mọi hoạt động sản xuất của con người đều có mục tiêu chủ yếu là kinh tế. Tuy nhiên, kết quả hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người [10].