Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện: Theo quy chế bệnh viện, bệnh viện có 7 chức năng và nhiệm vụ chính: [1] * Khám bệnh, chữa bệnh: Bệnh viện là nơi tiếp nhận mọi người bệnh đến cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú theo chế độ chính sách Nhà nước quy định. Tổ chức khám sức khoẻ và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước.
* Đào tạo cán bộ: Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế. Các thành viên trong bệnh viện phải mẫu mực thực hiện quy chế bệnh viện và quy trình kỹ thuật bệnh viện. * Nghiên cứu khoa học: Bệnh viện là nơi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng, những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ người bệnh. * Chỉ đạo tuyến: Hệ thống các bệnh viện được tổ chức theo tuyến kỹ thuật.
Tuyến trên có trách nhiệm chỉ đạo kỹ thuật tuyến dưới. * Phòng bệnh: Song song với khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh là nhiệm vụ quan trọng của bệnh viện. * Hợp tác quốc tế: Theo đúng các quy định của Nhà nước. * Quản lý kinh tế trong Bệnh viện: Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của bệnh viện, từng bước tổ chức việc hạch toán chi phí về khám bệnh, chữa bệnh trong bệnh viện.
Nội dung quản lý bệnh viện: Để đảm bảo chất lượng công tác KCB và thực hiện 7 nhiệm vụ theo quy chế, quản lý bệnh viện cần trú trọng các nội dung: Công tác hành chính, văn thư, lưu trữ hồ sơ tài liệu; Công tác kế hoạch; Công tác chuyên môn (khám, chẩn đoán và điều trị); Công tác tổ chức cán bộ; Công tác đào tạo nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế; Công tác chăm sóc điều dưỡng; Công tác tài chính kế toán; Công tác vật tư trang thiết bị, công trình y tế; Công tác dược [28]. CNTT, ứng dụng CNTT trong y tế: 1. Định nghĩa về CNTT: CNTT là một ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin [12]. 5 Theo Nghị quyết 49/CP ngày 04/8/1993 của Chính phủ, CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội [10].
Theo Luật CNTT, CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số [23]. Ứng dụng CNTT là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này [23]. CNTT trong y tế: 1. Các khái niệm về CNTT trong y tế: CNTT trong y tế là sự kết hợp của khoa học thông tin, khoa học máy tính và chăm sóc sức khỏe.
Nó giải quyết các vấn đề về nguồn lực, thiết bị và các biện pháp được yêu cầu để tối ưu hóa thu thập, lưu trữ, khôi phục và sử dụng các thông tin về sức khỏe và y sinh học. Việc ứng dụng CNTT trong y tế không chỉ bao gồm máy tính mà còn là các chỉ dẫn lâm sàng, điều dưỡng, nha khoa, dược, sức khỏe cộng đồng và các nghiên cứu về y tế [30]. CNTT y tế là việc áp dụng quá trình xử lý thông tin liên quan tới phần mềm máy tính và các phần mềm khác để giải quyết việc lưu trữ, khôi phục, chia sẻ và sử dụng các thông tin y tế, các dữ liệu, kiến thức cho việc giao tiếp và quyết định lựa chọn [31]. CNTT y tế bao gồm tập hợp các công nghệ về trao đổi và quản lý các thông tin sức khỏe được sử dụng bởi các khách hàng, nhà cung cấp, người trả chi phí, bảo hiểm y tế và tất cả đối tượng quan tâm tới sức khỏe và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà cụ thể là lưu trữ và xử lý số liệu của người bệnh.
Công nghệ này bao gồm sự sắp xếp có thứ tự khác nhau một cách có hệ thống, được liên kết với nhau, làm cho các bác sĩ liên hệ với nhau dễ dàng. Ví dụ như lưu trữ số liệu bằng máy tính, thông báo kết quả ở các labo, cho phép các nhà lâm sàng chia sẻ các thông tin về người bệnh không giới hạn về các bệnh viện, về biên giới địa lý [32]. Một số mô hình và ứng dụng CNTT y tế: [17] Trong những năm qua, ứng dụng CNTT trong y tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, các hệ thống thông tin ứng dụng CNTT y tế như HIS, RIS, bệnh án điện tử và PACS được triển khai ứng dụng rộng rãi và hiệu quả, xây dựng dựa trên tiêu chuẩn DICOM và HL7 nhằm hướng tới thống nhất về trao đổi và xử lý thông tin dữ liệu giữa các cơ sở y tế phục vụ công tác quản lý, chẩn đoán, điều trị và chăm sóc sức khỏe. HIS (Hospital Information System): Hệ thống thông tin bệnh viện thường được biết đến với tên gọi khác là "Hệ thống thông tin quản lý bệnh viện"; phục vụ công tác quản lý, điều hành tại bệnh viện với các chức năng chính: quản lý thông tin người bệnh và bệnh sử; quản lý người bệnh đến khám và điều trị nội và ngoại trú, quản lý bệnh án, dược, tài chính, viện phí, trang thiết bị vật tư y tế, nhân sự.
Ngày nay, HIS là công cụ tối ưu hóa trong quản lý điều hành; phục vụ điều trị; phục vụ nghiên cứu và đào tạo; thống kê, dự báo, dự phòng. tại các bệnh viện. Mối quan hệ giữa các hệ thống CNTT Y tế tại Bệnh viện hoạt động dựa trên chuẩn hình ảnh DICOM và chuẩn trao đổi dữ liệu HL7 7 EPR (Electronic Patient Record): Bệnh án điện tử thực chất là phần mềm dùng thay thế cho bệnh án giấy trong quản lý thông tin người bệnh, kết quả chẩn đoán, xét nghiệm, liệu trình điều trị. với nhiều ưu điểm trong tìm kiếm, tra cứu, tổng hợp số liệu phục vụ điều trị và hỗ trợ nghiên cứu.
RIS (Radiology Information System): Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh là hệ thống phần mềm được triển khai tại Khoa chẩn đoán hình ảnh. RIS bao gồm các thành phần và có tổ chức gần giống với HIS nhưng ở qui mô nhỏ hơn với các chức năng: quản lý thông tin người bệnh, quản lý danh sách người bệnh đến chụp - chiếu tại khoa, số liệu chụp - chiếu và kết quả chẩn đoán. Thông tin dữ liệu của RIS gồm dạng Text và dạng ảnh theo tiêu chuẩn DICOM được lấy từ các thiết bị chiếu chụp: X-quang, cắt lớp, siêu âm, cộng hưởng từ… PACS (Picture Archiving and Communication System): Hệ thống thông tin lưu trữ và thu nhận hình ảnh có nhiệm vụ quản lý công tác lưu trữ, truyền và nhận hình ảnh trên mạng thông tin máy tính của Khoa Chẩn đoán hình ảnh hoặc của Bệnh viện, trong đó các hình ảnh được lấy từ các thiết bị: siêu âm, X-quang, chụp cắt lớp vi tính (CT-scanner), cộng hưởng từ hạt nhân (MRI). với định dạng ảnh phổ biến hiện nay là DICOM được lưu trữ tại các Server và truyền đến các máy tính tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh và các khoa trong Bệnh viện phục vụ công tác khám, chẩn đoán và điều trị.
PACS khác RIS là chỉ quản lý, tổ chức lưu trữ, truyền và nhận hình ảnh trên mạng mà không quan tâm đến các dữ liệu dạng Text như: Thông tin chi tiết của người bệnh, số lần chụp chiếu, bệnh án, liệu trình điều trị. DICOM (Digital Imaging and Communication in Medicine): Tiêu chuẩn ảnh và truyền thông trong y tế, được phát triển từ năm 1988 dựa trên chuẩn ACR- NEMA, là qui chuẩn về định dạng và trao đổi ảnh y tế cùng các thông tin liên quan, từ đó tạo ra một phương thức chung nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà sản xuất cũng như người sử dụng trong kết nối, lưu trữ, trao đổi, in ấn ảnh y tế. Hiểu một cách đơn giản, tập tin ảnh DICOM ngoài dữ liệu hình ảnh giống như các tiêu chuẩn JPG, BMP, GIF. còn chứa thêm một số thông tin dạng Text như: Tên người bệnh, loại thiết bị chụp chiếu tạo ra hình ảnh….
HL7 là chuẩn dùng cho trao đổi dữ liệu dạng Text; chia sẻ, kết hợp, truy xuất các thông tin y tế điện tử giữa các bệnh viện cũng như các cơ sở y tế. Ra đời từ năm 1987, trải qua nhiều phiên bản, cho đến nay HL7 ngày càng được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi. IHE sử dụng các tiêu chuẩn DICOM và HL7, đưa ra các “Profile” tích hợp (Intergration Profile), hướng dẫn các thông tin hoặc quy trình làm việc dựa trên các tiêu chuẩn có sẵn như DICOM hoặc HL7. Tóm lại, IHE sẽ giúp loại bỏ sự không thống nhất, giảm chi phí, tạo ra khả năng tương thích ở mức độ cao nhất.
Đơn thuốc điện tử: Đơn thuốc điện tử là một ứng dụng CNTT dùng cho bác sĩ kê đơn và chỉ định các phương thức điều trị. Do là hệ thống điện tử nên đơn thuốc điện tử có thể kiểm tra việc kê đơn thuốc dựa vào cơ sở dữ liệu có sẵn và các thuật toán cảnh báo về tương tác thuốc và lượng còn trong kho. Đơn thuốc điện tử giúp cho giảm nguy cơ về sai sót trong chỉ định điều trị của bác sĩ. Y học từ xa: Là việc ứng dụng CNTT trong việc cung cấp và hỗ trợ quá trình khám, chẩn đoán và chăm sóc sức khỏe.
Nó giúp cho việc rút ngắn khoảng cách, tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế của người dân và trong nhiều trường hợp khẩn cấp có thể hỗ trợ rất tốt cho việc chăm sóc đặc biệt hoặc cho các trường hợp nặng [30]. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện ứng dụng CNTT vào quản lý thông tin KCB: [27] * Những yếu tố thuận lợi: Việc đưa sử dụng hệ thống phần mềm vào các hoạt động quản lý thông tin KCB tại bệnh viện đã giảm thiểu được nhiều loại sổ sách, giấy tờ, biểu mẫu, giảm gánh nặng về thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí văn phòng và các phát sinh không cần thiết. Hệ thống phần mềm đảm bảo toàn bộ hệ thống hoạt động xuyên suốt từ khâu tiếp nhận người bệnh vào viện đến ra viện.