Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Phan Thiết sở hữu hơn 58 km đường bờ biển với tài nguyên thiên nhiên phong phú và là trung tâm du lịch biển trọng điểm của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Tuy nhiên, dải đới bờ dài 31 km kéo dài từ xã Tiến Thành đến phường Mũi Né đang đối mặt với những tác động khốc liệt của biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng. Khu vực nghiên cứu bao gồm 10 phường, xã ven biển với tổng quy mô dân số 139.543 nhân khẩu, chiếm tới 61,4% dân số toàn thành phố, mật độ trung bình đạt 1.077,3 người/km². Sự gia tăng tần suất của các hình thái thời tiết cực đoan cùng các đợt triều cường đã làm gia tăng tốc độ xâm thực, gây sạt lở nghiêm trọng hàng chục héc-ta đất ở và làm hư hại kết cấu hạ tầng ven bờ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết sự thiếu hụt các cơ sở dữ liệu khoa học định lượng phục vụ công tác quản lý tích hợp vùng bờ và quy hoạch không gian đô thị bền vững. Mục tiêu của luận văn là đánh giá toàn diện tính dễ tổn thương của cộng đồng dân cư ven biển thành phố Phan Thiết trước nguy cơ xói lở bờ biển dưới bối cảnh biến đổi khí hậu, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thích ứng khả thi. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định từ tọa độ 10°54'14" vĩ độ Bắc tại xã Tiến Thành đến tọa độ 10°55'12" vĩ độ Bắc tại phường Mũi Né, dựa trên chuỗi số liệu khí tượng thủy văn và kinh tế xã hội giai đoạn 2010 - 2017. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bộ bản đồ phân vùng rủi ro trực quan, hỗ trợ chính quyền địa phương tối ưu hóa 100% nguồn lực đầu tư công trình phòng thủ bờ biển và hướng tới mục tiêu giảm thiểu hơn 30% tổn thất kinh tế cho cộng đồng địa phương trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu áp dụng khung đánh giá tính dễ tổn thương theo Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu công bố năm 2014. Tính dễ tổn thương được cấu thành từ ba thành tố cốt lõi: Mức độ phơi nhiễm (Exposure), Mức độ nhạy cảm (Sensitivity) và Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity). Chỉ số tổn thương tổng hợp được xác lập thông qua mô hình toán học cân bằng với công thức tính toán: Mức độ tổn thương bằng một phần ba tổng của Mức độ phơi nhiễm cộng Mức độ nhạy cảm cộng với hiệu số của một trừ đi Năng lực thích ứng.

Bên cạnh đó, luận văn vận dụng lý thuyết Quản lý tổng hợp vùng đới bờ và khái niệm Vùng đới bờ thấp. Căn cứ theo Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo số 82/2015/QH13, vùng bờ là khu vực chuyển tiếp sinh thái và nhân văn chịu tương tác hai chiều giữa lục địa và đại dương. Theo các báo cáo quốc tế, Việt Nam nằm trong nhóm 4 quốc gia có tỷ lệ diện tích vùng đới bờ thấp lớn nhất thế giới với 66.232 km², chiếm 20,2% diện tích và 12,3% dân số cả nước. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: Chỉ số tổn thương đới bờ, Quá trình xói lở xâm thực, Năng lực ứng phó nội sinh và Tính bền vững sinh kế ven biển.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu điều tra xã hội học được thực hiện theo kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đại diện với cỡ mẫu tối thiểu 271 hộ gia đình, xác định bằng công thức ước lượng tỷ lệ với độ tin cậy 90% (tương ứng giá trị phân phối 1,645), sai số cho phép 5% và tỷ lệ dự đoán 50%. Số lượng 271 phiếu khảo sát được phân bổ theo mật độ dân cư thực tế tại 10 phường, xã ven bờ: phường Mũi Né 56 phiếu, phường Phú Thủy 45 phiếu, phường Đức Long 34 phiếu, phường Lạc Đạo 27 phiếu, phường Phú Hài 25 phiếu, phường Hưng Long 20 phiếu, phường Đức Thắng 17 phiếu, phường Thanh Hải 17 phiếu, phường Hàm Tiến 16 phiếu và xã Tiến Thành 14 phiếu.

Luận văn ứng dụng phương pháp phân tích thứ bậc đa tiêu chí của Thomas L. Saaty kết hợp kỹ thuật 6W2H để xây dựng ma trận so sánh cặp với thang điểm từ 1 đến 9, phục vụ việc tính toán vector trọng số cho từng chỉ số thành phần. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thứ bậc là khả năng định lượng hóa chính xác các nhận định chuyên gia phức tạp, đồng thời kiểm soát tính nhất quán thông qua tỷ số nhất quán luôn nhỏ hơn hoặc bằng 0,10. Hệ thống thông tin địa lý ArcGIS được ứng dụng để số hóa bản đồ tỷ lệ 1:10.000 đến 1:25.000, thực hiện kỹ thuật chồng lớp không gian đa tầng nhằm biểu diễn các chỉ số phơi nhiễm, nhạy cảm và tổn thương theo thang màu trực quan. Dữ liệu khảo sát được xử lý và kiểm định thống kê thông qua tính năng bảng tổng hợp của phần mềm chuyên dụng kết hợp mô hình phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả tính toán chỉ số cho thấy mức độ tổn thương có sự phân hóa không gian sâu sắc giữa các phường, xã ven biển thành phố Phan Thiết. Phường Đức Long và xã Tiến Thành là hai địa bàn có chỉ số tổn thương cao nhất, vượt ngưỡng 0,65 trên thang đo chuẩn hóa, xếp vào cấp độ tổn thương rất cao. Nguyên nhân chủ yếu do đây là các điểm nóng xói lở bờ biển với tốc độ xâm thực trung bình từ 5 đến 15m mỗi năm, đồng thời tập trung mật độ dân cư sinh sống sát mép nước cao. Ngược lại, phường Phú Thủy và phường Thanh Hải ghi nhận chỉ số tổn thương thấp hơn 35% nhờ có địa hình cồn cát cao và tuyến kè kiên cố bảo vệ.

Thứ hai, mức độ phơi nhiễm tự nhiên chịu sự chi phối mạnh mẽ của chế độ sóng và hoàn lưu dòng chảy ven bờ. Trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc, chiều cao sóng trung bình đạt 1,5m và sóng cực đại vượt quá 4,0m, kết hợp với vận tốc dòng chảy ven bờ lên tới 66,3 cm/s vào tháng 11 đã tạo nên lực cắt đáy cực mạnh cuốn trôi lượng cát ven bờ. Có tới 72% chiều dài đường bờ tại xã Tiến Thành và phường Đức Long chưa có công trình đê kè bảo vệ đạt chuẩn kỹ thuật.

Thứ ba, mức độ nhạy cảm kinh tế - xã hội gắn liền mật thiết với đặc thù sinh kế biển. Thống kê từ 271 hộ khảo sát cho thấy có 58,4% số hộ gia đình phụ thuộc trực tiếp vào hoạt động đánh bắt ven bờ, nuôi trồng thủy sản và chế biến nước mắm truyền thống. Thu nhập của 46,5% số hộ tại khu vực xói lở chỉ đạt dưới 4 triệu đồng/người/tháng, dẫn đến khả năng chống chịu tài chính trước thiên tai rất thấp.

Thứ tư, năng lực thích ứng của cộng đồng còn bộc lộ nhiều khoảng trống nghiêm trọng. Dù có 81,2% người dân nhận thức được biểu hiện của biến đổi khí hậu và xâm thực bờ biển, nhưng chỉ có 24,7% số hộ có điều kiện kinh tế để chủ động gia cố nhà cửa bằng bao cát, cọc gỗ hoặc tôn tạo nền móng vững chắc.

Thảo luận kết quả

Các kết quả phân tích định lượng và định tính được biểu diễn trực quan thông qua bảng đối sánh trọng số phân tích thứ bậc và hệ thống bản đồ thang màu chuyên đề trên nền ArcGIS. Việc trình bày dữ liệu dạng bản đồ số hóa giúp các cơ quan quản lý dễ dàng nhận diện ranh giới các vùng phơi nhiễm khẩn cấp thay vì chỉ tiếp cận qua các con số văn bản thuần túy. Biểu đồ phân bổ cơ cấu thu nhập và sinh kế cũng phản ánh rõ mối tương quan nghịch giữa mức thu nhập bình quân với chỉ số nhạy cảm xã hội.

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự gia tăng tính dễ tổn thương là tác động cộng hưởng giữa các yếu tố tự nhiên khắc nghiệt và hoạt động phát triển kinh tế thiếu kiểm soát. Chế độ nhật triều chiếm ưu thế từ 18 đến 22 ngày trong tháng với biên độ dao động triều từ 1,5 đến 2,0m tạo điều kiện cho triều cường dâng cao thâm nhập sâu vào đất liền. Cùng với đó, việc san lấp mặt bằng ven bờ xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng và tình trạng khai thác nước ngầm quá mức làm hạ thấp mực nước ngầm, gia tăng hiện tượng dịch chuyển đường phân ranh mặn - ngọt vào sâu nội đồng. So sánh với các nghiên cứu tương tự tại các tỉnh duyên hải miền Trung, tính tổn thương tại Phan Thiết mang tính cục bộ ven biển cao, đòi hỏi các chính sách quản lý phải chuyển từ can thiệp thụ động sang chủ động kiểm soát rủi ro đới bờ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện nhóm giải pháp công trình kỹ thuật bảo vệ bờ biển bền vững. Cần khẩn trương ứng dụng công nghệ đê ngầm giảm sóng kết hợp ống địa kỹ thuật bằng vải dệt cường lực cao và các khối bê tông module đúc sẵn TetraPOT tại khu vực bờ biển phường Hàm Tiến và bãi tắm Đồi Dương. Giải pháp này giúp triệt tiêu 45% đến 60% năng lượng sóng ngoài khơi trước khi truyền vào bờ, hoàn thành lắp đặt trong giai đoạn 2020 - 2023 do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp cùng Sở Xây dựng thực hiện. Tiến hành nuôi bãi nhân tạo với khối lượng cát bổ sung dự kiến 150.000 m³ tại xã Tiến Thành trước mùa mưa bão năm 2024 để tái tạo các đụn cát tự nhiên.

Thứ hai, triển khai nhóm giải pháp sinh thái và phi công trình. Tổ chức trồng mới 50 hecta đai rừng phòng hộ ven biển bằng các giống cây bản địa chịu hạn và chịu mặn như phi lao, tra làm cảnh trên các lập địa cồn cát thuộc phường Mũi Né và xã Tiến Thành trong khung thời gian 2022 - 2025, hướng tới mục tiêu giảm 30% tốc độ gió bão và cố định dải cát bay, do Chi cục Kiểm lâm và Ủy ban Nhân dân các xã phường chủ trì. Thiết lập mạng lưới quan trắc đường bờ tự động ứng dụng ảnh viễn thám đa thời gian để cập nhật biến động địa hình định kỳ 6 tháng một lần.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản lý tổng hợp vùng bờ. Ủy ban Nhân dân thành phố Phan Thiết cùng Sở Tài nguyên và Môi trường cần ban hành Quy hoạch phân vùng không gian biển đến năm 2030, thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển với khoảng cách an toàn tối thiểu 100m tính từ mực nước triều cao nhất, triển khai ngay từ quý IV năm 2021.

Thứ tư, đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ sinh kế và truyền thông cộng đồng. Ngân hàng Chính sách Xã hội và Phòng Kinh tế thành phố cần triển khai gói tín dụng ưu đãi lãi suất dưới 5%/năm hỗ trợ ít nhất 300 hộ ngư dân chuyển đổi từ đánh bắt ven bờ sang dịch vụ du lịch sinh thái và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, kết hợp tổ chức 20 lớp tập huấn kỹ năng phòng chống thiên tai cho 100% cán bộ cơ sở và đại diện các tổ dân phố ven biển.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và các nhà hoạch định chính sách tại địa phương: Lãnh đạo Ủy ban Nhân dân thành phố Phan Thiết, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Thuận có thể sử dụng bộ chỉ số và bản đồ phân vùng tổn thương làm luận cứ khoa học để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030 và phân bổ nguồn kinh phí chống xói lở hàng năm.

Các kỹ sư công trình thủy lợi, xây dựng công trình biển và kiến trúc sư quy hoạch đô thị: Có thể khai thác các thông số hải văn thực đo, đặc trưng sóng cực đại và mô hình kỹ thuật đê Geotube, khối TetraPOT để áp dụng vào thiết kế các dự án kè bảo vệ bờ biển du lịch thích ứng với điều kiện khí hậu nhiệt đới khô hạn.

Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên môi trường, Khoa học môi trường và Biến đổi khí hậu: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về quy trình kết hợp phương pháp phân tích thứ bậc đa tiêu chí, phương pháp điều tra xã hội học và công nghệ viễn thám hệ thống thông tin địa lý trong nghiên cứu rủi ro thiên tai vùng đới bờ.

Cộng đồng doanh nghiệp du lịch và các hợp tác xã ven biển: Các chủ đầu tư resort nghỉ dưỡng tại Mũi Né, Hàm Tiến và ngư dân các phường ven bờ có thể tham khảo để chủ động xây dựng phương án bảo vệ bãi biển kinh doanh, lựa chọn giải pháp kè mềm thân thiện sinh thái và tối ưu hóa chuyển đổi mô hình kinh tế biển bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Lý do luận văn kết hợp phương pháp phân tích thứ bậc đa tiêu chí với công nghệ hệ thống thông tin địa lý là gì? Sự kết hợp này cho phép định lượng hóa các ý kiến chuyên gia thông qua vector trọng số khoa học với độ tin cậy được kiểm soát chặt chẽ qua chỉ số nhất quán nhỏ hơn 0,10. Đồng thời, hệ thống thông tin địa lý giúp số hóa và trực quan hóa các dữ liệu thuộc tính lên không gian địa lý 10 phường xã, hỗ trợ nhà quản lý nhận diện nhanh chóng các điểm xung yếu.

Mô hình đánh giá tính dễ tổn thương của luận văn bao gồm những nhóm tiêu chí cụ thể nào? Mô hình tích hợp ba nhóm tiêu chí: Mức độ phơi nhiễm đo lường qua biến động đường bờ và chiều cao sóng biển từ 1,5m đến 4,0m; Mức độ nhạy cảm phản ánh mật độ dân cư 1.077,3 người/km² cùng 58,4% lao động làm nghề biển; Năng lực thích ứng đánh giá qua hạ tầng kiên cố và nguồn lực tài chính cộng đồng.

Những khu vực nào tại thành phố Phan Thiết ghi nhận mức độ dễ tổn thương do xói lở cao nhất? Khu vực phường Đức Long, xã Tiến Thành và phường Hàm Tiến là ba điểm nóng tổn thương nghiêm trọng nhất toàn thành phố. Tốc độ xói lở tại đây đạt từ 5 đến 15m mỗi năm, đe dọa trực tiếp đến nhà cửa của hàng trăm hộ dân và các công trình du lịch ven bờ.

Ưu điểm nổi bật của công nghệ đê mềm bằng ống địa kỹ thuật và khối TetraPOT so với kè cứng là gì? Giải pháp kè mềm Geotube và module TetraPOT giúp giảm từ 45% đến 60% năng lượng sóng tới, không gây hiện tượng xói lở chân bờ như kè bê tông thẳng đứng, bảo tồn nguyên vẹn cảnh quan bãi cát du lịch và tiết kiệm từ 30% đến 40% chi phí xây lắp ban đầu.

Kết quả của luận văn có thể tích hợp vào quy hoạch kinh tế - xã hội địa phương như thế nào? Dữ liệu bản đồ tổn thương có thể tích hợp trực tiếp vào quy hoạch không gian đới bờ thành phố Phan Thiết tầm nhìn 2030. Kết quả giúp chính quyền thiết lập hành lang an toàn bờ biển 100m, điều chỉnh mật độ xây dựng và quy hoạch lại khu neo đậu tàu thuyền tại cửa sông Cà Ty và Phú Hài.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công bộ tiêu chí đánh giá tính dễ tổn thương vùng đới bờ gồm 3 hợp phần phơi nhiễm, nhạy cảm, thích ứng và chuẩn hóa trọng số bằng phương pháp phân tích thứ bậc đa tiêu chí.
  • Đánh giá toàn diện 100% hiện trạng mức độ tổn thương trên 31 km dải đới bờ thuộc 10 phường, xã ven biển thành phố Phan Thiết, định vị chính xác 3 điểm nóng xói lở nghiêm trọng tại Đức Long, Tiến Thành và Hàm Tiến.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp thích ứng đồng bộ kết hợp kỹ thuật công trình kè mềm Geotube, phục hồi 50 hecta rừng phòng hộ cát và phân vùng hành lang bảo vệ bờ biển 100m.
  • Đóng góp nguồn cơ sở dữ liệu số hóa tin cậy phục vụ quy hoạch sinh kế bền vững cho 139.543 nhân khẩu địa phương trong giai đoạn 2021 - 2030.
  • Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp nhanh chóng hợp tác triển khai thí điểm các mô hình công trình kè sinh thái và chính sách hỗ trợ chuyển đổi sinh kế ngay trước mùa mưa bão tới.