Chương 1. Tổng quan tài liệu: Nội dung của chƣơng này tập trung vào biểu hiện của biến đổi khí hậu và đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu, đặc biệt đối với ngành thủy sản. Nội dung và phương pháp nghiên cứu: Chƣơng này giới thiệu các phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn liên quan tới tính dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu và các giải pháp ứng phó liên quan đến hoạt động đánh bắt thủy sản và các chính sách hiện hành trong lĩnh vực thủy sản. Kết quả và thảo luận: Chƣơng này đƣa ra các kết quả phân tích đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng đối với ngành khai thác và chế biến thủy sản do biến đổi khí hậu, đồng thời đƣa ra các giải pháp giảm thiểu mức độ tổn thƣơng do biến đổi khí hậu lên lĩnh vực sinh kế này.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Biến đổi khí hậu và các tác động của biến đổi khí hậu 1. Nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho thấy, sự ấm lên của khí hậu toàn cầu là rõ ràng và từ những năm 1950 có nhiều thay đổi chƣa từng có trong nhiều thập kỷ hoặc thiên niên kỷ trƣớc đó. Khí quyển và đại dƣơng đã trở nên nóng hơn, lƣợng tuyết và băng đã giảm đi và mực nƣớc biển đã tăng lên.
Về nguyên nhân, IPCC cho rằng, phát thải khí nhà kính do con ngƣời là nguyên nhân chính gây ra của sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Vào cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã bắt đầu nhận thấy mầm mống của biến đổi khí hậu, tuy nhiên tại thời điểm đó ngƣời ta chƣa nhận thức đƣợc hậu quả của nó ngày nay. Tới năm 1896, Svante Arrherius – một nhà hóa học Thụy Điển đã đƣa ra kết lu ận việc đốt than trong công nghiệp sẽ làm gia tăng nhanh chóng hiệu ứng nhà kính. Kết luận của Svante Arrherius về mức độ ảnh hƣởng của khí nhà kính nhân tạo rằng nếu lƣợng khí nhà kính tăng gấp đôi thì nhiệt độ trung bình của toàn cầu sẽ tăng vài độ C, điều này gần nhƣ trùng khớp với mô hình khí hậu đang đƣợc sử dụng hiện nay.
Cho tới nay, IPCC đã xuất bản báo cáo lần thứ 4 vào năm 2007, đây là một trong các tài liệu quan t rọng nhất về biến đổi khí hậu. Theo IPCC (2007), sự ấm lên của khí hậu là điều chắc chắn. Hàm lƣợng khí CO2, loại khí nhà kính quan trọ ng nhất trong bầu khí quyển toàn cầu, dao động ở mức 200-300 ppm trong suốt 800.000 năm qua, nhƣng đã tăng lên ở mức khoảng 387 ppm trong 150 năm qua, chủ yếu là do đốt nhiên liệu hóa thạch và một nguyên nhân nhỏ hơn là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và thay đổi việc sử dụng đất. Các quan trắc khí tƣợng đƣợc định lƣợng chi tiết và đến nay đã thu thập đƣợc dãy số liệu khí hậu chính xác trong hơn một thế kỷ qua.
Những số liệu cho thấy nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ 20 đã tăng lên 0,74oC ( 0,2oC); trên đất liền 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tăng nhiều hơn trên biển và giai đoạn 1995 – 2006 đƣợc xếp vào danh sách 12 năm nóng nhất trong lịch sử quan trắc nhiệt độ [34] Hình 1. Biến động nhiệt độ toàn cầu và nồng độ CO2 [34] Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang gây ra những tác động tiêu cực tới các hệ thống tự nhiên, nhân tạo và con ngƣời trên toàn thế giới. Sự thay đổi về nhiệt độ, lƣợng mƣa đã gây ra sa mạc hóa, hạn hán, lũ lụt…, gây tác hại cho tài nguyên nƣớc, tài nguyên đất, ảnh hƣởng đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội. Mực nƣớc biển dâng cao đe dọa làm ngập chìm các hòn đảo, các khu vực đất thấp, làm thay đổi toàn bộ đời sống, sinh hoạt của con ngƣời.
Sự gia tăng cáchiệntƣợng thời tiết cực đoan nhƣ bão, lũ, lũ quét… cũng gây thiệt hại lớn cho các quốc gia. Theo ƣớc tính của các nhà khoa học, nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng từ 1,5 đến 2,5oC so với thời kỳ tiền công nghiệp, khoảng 20% - 30% các loài sinh vật sẽ đứng bên bờ tuyệt chủng. Nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng hơn 4oC thì sẽ chỉ còn rất ít các hệ sinh thái có khả năng thích ứng đƣợc, hơn 40% hệ sinh thái sẽ chuyển đổi và rất nhiều hệ sinh thái sẽ biến mất hoặc sụp đổ trên quy mô toàn cầu. Bên cạnh đó, nếu mực nƣớc biển dâng cao 1m, hàng triệu ngƣời có thể mất nhà cửa và hàng nghìn ha đất canh tác bị ngập lụt, gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD.
Nhiều quốc đảo có độ cao dƣới 3m so với mặt nƣớc biển nhƣ Kiribati, Tuvalu,. sẽ mất phần lớn diện tích và một vài nƣớc khác sẽ biến mất khi nƣớc biển dâng cao 1m. Sự nóng lên toàn cầu rất rõ ràng với những biểu hiện của sự tăng nhiệt độ không khí và đại dƣơng, sự tan băng diện rộng và qua đó là mức tăng mực nƣớc biển trung bình toàn cầu. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Biến đổi khí hậu tác động lên tất cả các thành phần môi trƣờng bao gồm cả các lĩnh vực của môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội và sức khoẻ con ngƣời trên phạm vi toàn cầu.
Tuy nhiên, mức độ tác động của biến đổi khí hậu có khác nhau: nghiêm trọng ở các vùng có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác, sẽ lớn hơn ở các nƣớc nhiệt đới, nhất là các nƣớc đang phát triển công nghiệp nhanh ở Châu Á. Trong đó, những ngƣời nghèo, những ngƣời ít góp phần gây ra biến đổi khí hậu nhất thì lại phải chịu những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con ngƣời do biến đổi khí hậu gây ra [6]. Cho tới nay, vấn đề BĐKH đã, đang và sẽ tác động lên các lĩnh vực năng lƣợng, nƣớc, lƣơng thực, văn hóa, kinh tế, ngoại giao, xã hội, việc làm, thƣơng mại, làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu nhƣ: - Sự thay đổi về nhiệt độ, lƣợng mƣa đã gây ra sa mạc hóa, hạn hán, lũ lụt…, gây tác hại cho tài nguyên nƣớc, tài nguyên đất, ảnh hƣởng đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội. - Mực nƣớc biển dâng cao đe dọa làm ngập chìm các hòn đảo, các khu vực đất thấp, làm thay đổi toàn bộ đời sống, sinh hoạt của con ngƣời.
- Sự gia tăng cáchiệntƣợng thời tiết cực đoan nhƣ bão, lũ, lũ quét… cũng gây thiệt hại lớn cho các quốc gia. Nghiên cứu về biến đổi khí hậu tại Việt Nam Tại Việt Nam, biến đổi khí hậu đƣợc nghiên cứu nhiều sau khi Việt Nam tham gia ký công ƣớc khung liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) năm 1992 và sau đó là tham gia nghị định thƣ Kyoto năm 1998. Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã đi sâu nghiên cứu về BĐKH nhƣ Giáo sƣ Nguyễn Đức Ngữ với sự ra đời cuốn sách Biến đổi khí hậu, nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật năm 2008 [6], và nhiều nhà khoa học khác cũng tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu này. Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng là đơn vị nhà nƣớc Việt Nam chủ trì các hoạt động liên quan đến biến đổi khí hậu.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong vài thập kỷ vừa qua, ở Việt Nam đã xuất hiện các đợt nắng nóng, rét đậm rét hại, hạn hán, mƣa lớn, lũ lụt kỉ lục. Nhiều cơn bão mạnh xuất hiện với đƣờng đi phức tạp… gây nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội và môi trƣờng. Những nghiên cứu gần đây cho thấy các diễn biến bất thƣờng nói trên phù hợp với xu thế của biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng khốc liệt hơn. Ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm đã tăng 0,5 – 0,7 oC trong khoảng 50 năm qua.
Trong 3 thập kỷ gần đây, 1981 – 2010, số đợt không khí lạnh qua Bắc Bộ giảm rõ rệt, trung bình từ 29 đợt/ năm xuống còn 24 đợt/ năm. Trong thời kỷ 1960 – 2007, số cơn bão hoạt động trên Biển Đông tăng lên với tốc độ 0,45 cơn/thập kỷ. Số cơn bão ảnh hƣởng đến Việt Nam cũng tăng lên trung bình 0,226 cơn/thập kỷ, tỉ trọng bão ảnh hƣởng đến khu vực phía Nam tăng lên. Số ngày mƣa phùn trung bình năm ở phía Bắc giảm rõ rệt, từ 35,8 ngày trong thập kỷ 1971 - 1980, xuống còn 14,5 ngày/năm trong 10 năm gần đây.
Biến động của lƣợng mƣa trong 9 thập kỷ vừa qua không nhất quán, có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. Trên lãnh thổ Việt Nam, xu thế biến động của lƣợng mƣa cũng rất phức tạp, tăng lên trên hầu hết khu vực phía Nam và giảm đi trên các khu vực phía Bắc. Trong 50 năm qua, mực nƣớc biển trung bình trên các đoạn bờ biển Việt Nam tăng 2,5 - 3,0cm/1 thập kỷ [1], [3], [5]. Trong khuôn khổ của Chƣơng trình Mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu, năm 2009 Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đã xây dựng và công bố kịch bản biến đổi khí hậu, nƣớc biển dâng cho Việt Nam dựa trên kịch bản phát thải khí nhà kính và kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC).
Tuy nhiên kịch bản năm 2009 chỉ chi tiết đến vùng khí hậu và vùng biển của Việt Nam, trong khi đó yêu cầu thực tiễn cần có kịch bản chi tiết tới cấp tỉnh và nhỏ hơn. Vì vậy năm 2011, Bộ Tài nguyên Môi trƣờng đã cập nhật bổ sung dữ liệu, kiến thức mới về hệ thống khí hậu và đƣa ra các kịch bản chi tiết hơn phù hợp với thực tiễn. Cho đến này, Bộ đã xây dựng 03 kịch bản biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng cho Việt Nam lần lƣợt năm 2009, năm 2011 và năm 2016 [1]. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kịch bản năm 2011 xây dựng dựa trên các sản phẩm của mô hình hoàn lƣu khí quyển toàn cầu AGCM của Viện nghiên cứu Khí tƣợng Nhật Bản (MRI); mô hình khí hậu khu vực PRECIS của Vƣơng quốc Anh; các phần mềm thống kê SDSM của Hoa Kỳ; SIMCLIM của New Zealand.