CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về đánh giá đất 1. Một số khái niệm a. Quan điểm về đất (Soil): Đất là một loại tài nguyên vô cùng quý báu của mỗi quốc gia, là một tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp.
Do vậy, cùng với các mục đích sử dụng đất khác nhau, con người đã có quá trình nghiên cứu lâu dài, tích luỹ được một khối lượng lớn kiến thức và hình thành nên nhiều các quan điểm khác nhau về đất. Trong đó, điển hình nhất là quan điểm của về đất của V. Dokuchaev (1846 - 1903) - một nhà thổ nhưỡng học người Nga, người đã đặt nền móng cho khoa học thổ nhưỡng sau này. Theo Dokuchaev “Đất là một vật thể tự nhiên đặc biệt, có lịch sử phát triển hoàn toàn độc lập, nó là sản phẩm hoạt động tổng hợp của đá mẹ, địa hình, khí hậu, sinh vật và tuổi địa phương” [5].
Villiam (1863 - 1930), đã đưa ra một quan điểm về đất dưới góc độ nông hóa: “Đất là một lớp tơi xốp trên bề mặt lục địa, có khả năng cho thu hoạch thực vật. Đặc trưng cơ bản của đất là độ phì nhiêu và đó là tính chất hết sức quan trọng của đất” [5]. Có thể nhận thấy, một đặc tính tạo nên giá trị to lớn của đất, biến nó trở thành một nguồn tài nguyên vô giá của mỗi quốc gia, đó chính là khả năng cho cây trồng tồn tại và phát triển. Khái niệm được sử dụng khá phổ biến hiện nay đó là khái niệm về đất của (FAO).
Theo FAO (1976), các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện qua các mặt sau: Sản xuất, môi trường sự sống, điều chỉnh khí hậu, cân bằng sinh thái, tồn trữ và cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu khoáng sản trong lòng đất); Không gian sự sống; bảo tồn, lịch sử; Vật mang sự sống; Phân ly lãnh thổ. Tài nguyên đất (Land resources): Theo FAO, tài nguyên đất là toàn bộ lớp vật chất mềm xốp nằm trên cùng của vỏ Trái Đất bao gồm tất cả các đặc tính của đất mà ở đó thực vật, động vật, vi sinh vật và con người có thể sinh sống đồng thời được con người sử dụng vào các mục đích an ninh lương thực, văn hoá, tinh thần, thể thao, … tài nguyên đất có khả năng phục hồi song có tính chậm chạp [15]. Để hình thành một phẫu diện đất hoàn chỉnh phải cần đến hàng trăm thậm chí hàng nghìn năm. Như vậy, đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người.
Đất có hai nghĩa: Đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản xuất NLN. Kết quả nghiên cứu theo FAO và theo Tiêu chuẩn Quốc gia của Việt Nam (TCVN 8409:2012) về Quy trình đánh giá đất sản xuất nông nghiệp, một số thuật ngữ được sử dụng trong đánh giá đất cho phát triển nông nghiệp - Đánh giá đất đai: “Đánh giá đất đai là quá trình dự đoán tiềm năng đất đai khi sử dụng cho các mục đích cụ thể”. Như vậy đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những thuộc tính vốn có của từng đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất nhất định cần có, nhằm cung cấp những thông tin về mức độ thuận lợi và khó khăn cho 11 việc sử dụng đất đai, làm căn cứ đưa ra những quyết định về sử dụng và quản lí đất đai (trích theo FAO -1976). [1] - Đơn vị đất đai (Land Units - LU): Theo FAO, thuật ngữ ĐVĐĐ dùng để chỉ một diện tích đất đai với những điều kiện môi trường đặc trưng riêng, được phân biệt nhờ các thuộc tính như đặc điểm đất đai và chất lượng đất đai.
ĐVĐĐ được xem là đơn vị tự nhiên cơ sở để đánh giá đất đai, ĐVĐĐ không phụ thuộc vào tỉ lệ và kiểu loại bản đồ [4]. - Bản đồ đơn vị đất đai (Land Mapping Unit - LMU): Là một khoảnh/vạt đất ngoài thực tế, có thể xác định được trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc điểm và chất lượng thích hợp cho từng loại sử dụng đất, có cùng một điều kiện quản lý, cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất. Mỗi đơn vị đất đai thích hợp với một hoặc một số loại sử dụng đất nhất định [4]. - Đặc điểm đất đai (Land Characteristic - LC): Một thuộc tính của đất đai, có thể đo lường hoặc ước lượng trong quá trình điều tra, bao gồm cả sử dụng viễn thám, điều tra thông thường cũng như bằng cách thống kê tài nguyên thiên nhiên như: loại đất, độ dốc, độ dày tầng đất mịn, lượng mưa, độ ẩm, điều kiện tưới, điều kiện tiêu nước.
[1] - Kiểu sử dụng đất đai chính (Major Kind of Land Use): Phần chia nhỏ chủ yếu của sử dụng đất nông nghiệp như: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác. [1] - Loại sử dụng đất đai (Land Utilization Type - LUT): Một loại sử dụng đất đai được miêu tả hay xác định theo mức độ chi tiết từ kiểu sử dụng đất chính. Loại sử dụng đất đai có liên quan tới mùa vụ, kết hợp mùa vụ hoặc hệ 12 thống cây trồng với các phương thức quản lý và tưới (tiêu) xác định trong môi trường kỹ thuật và kinh tế xã hội nhất định. [1] Trong đó, loại sử dụng đất đai được phân định và mô tả bởi các thuộc tính kỹ thuật và kinh tế - xã hội như: loại cây trồng, kỹ thuật canh tác, loại và khối lượng sản phẩm, yêu cầu lao động, chi phí sản xuất, lợi nhuận thu được.Tùy theo mức độ đánh giá đất đai, có thể phân loại sử dụng đất theo mức khái quát hoặc chi tiết tương ứng.
- Yêu cầu sử dụng đất đai (Land Use Requirement - LUR): Những đòi hỏi về đặc điểm và tính chất đất đai để đảm bảo cho mỗi loại sử dụng đất đưa vào đánh giá có thể phát triển một cách bền vững. [1] - Chất lượng đất (LQ): Là một đặc trưng phức tạp của đất mà các tác động trong từng tính chất của nó sẽ ảnh hưởng lên tính thích nghi của đất cho một kiểu sử dụng riêng biệt. Chất lượng đất đai có thể thể hiện một cách tích cực hoặc tiêu cực. Ví dụ như độ ẩm sẵn có, khả năng chống xói mòn, nguy cơ lũ lụt, khả năng tiếp cận.
[1] - Đặc tính đất (LC): Là một đặc trưng phức tạp của đất đai mà có thể đo lường hay ước tính được, ví dụ như: Góc dốc, lượng mưa, sinh khối của thực vật.[1] - Đất nông nghiệp: được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. [1] Theo Khoản 2 Điều 3 Thông tư 35/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc điều tra đánh giá đất, tiềm năng đất đai là khả năng về số lượng, chất lượng đất cho mục đích sử dụng đất. Vai trò và ý nghĩa của đất nông nghiệp Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con người trên trái đất.
Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội. Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau. Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, đất đai có vị trí đặc biệt.
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế. Đặc biệt vì đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển. Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động.
Con người sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi. Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp. Với sinh vật. đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng.
Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai. Diện tích, chất lượng của đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và của cả vùng. Vì vậy, việc quản lý, sử dụng đất nông nghiệp một cách đúng hướng, có hiệu quả sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội. Bên cạnh đó, một bộ phận lớn đất ngập nước: các đầm lầy, sông ngòi, kênh rạch, rừng ngập mặn, các vũng, vịnh ven biển, hồ nước nhân tạo còn có nhiều vai trò quan trọng khác.
Đây là nơi cung cấp nhiên liệu, thức ăn là nơi diễn ra các hoạt động giải trí, nuôi trồng thủy sản, lưu trữ các nguồn gen quý hiếm. Ngoài ra, đất nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lọc nước thải, điều hoà dòng chảy (giam lũ lụt và hạn hán), điều hòa khí hậu địa phương, chống xói lở ở bờ biển, ổn định mạch nước ngầm cho nguồn sản 14 xuất nông nghiệp, tích lũy nước ngầm, là nơi cư trú của các loài chim, phát triển du lịch. Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các trị liệu sản xuất khác và hiệu quả sản xuất. Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi.
Vì vậy, muốn làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ đất đai để đảm bảo cả lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài. Cần sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả, cần coi việc bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia. Đánh giá đất theo FAO a) Nguyên tắc đánh giá đất đai Theo FAO, ĐGĐĐ phải thực hiện theo các nguyên tắc sau [31]: - Mức độ thích nghi của đất đai phải được đánh giá, phân hạng cho các LHSD đất cụ thể. - Việc đánh giá phải có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết giữa các loại đất khác nhau.
- ĐGĐĐ phải dựa trên quan điểm tổng hợp.