Chuyên đề tốt nghiệp đánh giá thực trạng và tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành hàng tiêu dùng nhanh tại việt nam

Chuyên đề tốt nghiệp phân tích thực trạng và tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành hàng tiêu dùng nhanh tại Việt Nam, đề xuất giải pháp phát triển bền vững.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

chuyên đề tốt nghiệp

2021

58
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Kết cấu chuyên đề

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ VIỆC ÁP DỤNG KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan về kinh tế tuyến tính và kinh tế tuần hoàn

1.1.1. Kinh tế tuyến tính

1.1.2. Hạn chế của kinh tế tuyến tính

1.1.3. Kinh tế tuần hoàn

1.1.3.1. Khái niệm
1.1.3.2. Mô hình KTTH
1.1.3.3. Lợi ích của kinh tế tuần hoàn

2. CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG ÁP DỤNG KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG NHANH TẠI VIỆT NAM

2.1. Đặc điểm mẫu khảo sát

2.2. Phương pháp đánh giá

2.2.1. Ứng dụng phương pháp Circulytics đánh giá mức độ áp dụng kinh tế tuần hoàn của các doanh nghiệp trong ngành hàng tiêu dùng nhanh

2.2.2. Phân loại mức độ áp dụng kinh tế tuần hoàn của doanh nghiệp

2.3. Kết quả phân tích số liệu khảo sát

2.4. Đánh giá tổng quan về tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn của các doanh nghiệp trong ngành hàng tiêu dùng nhanh

2.4.1. Đánh giá theo các tiêu chí về tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn của các doanh nghiệp trong ngành hàng tiêu dùng nhanh

2.4.2. Đánh giá theo nhóm ngành sản phẩm về tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn của các doanh nghiệp trong ngành hàng tiêu dùng nhanh

2.4.3. Đánh giá cơ hội và rào cản của doanh nghiệp trong việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY ÁP DỤNG KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG NHANH

3.1. Căn cứ đề xuất giải pháp

3.2. Xu hướng tất yếu toàn cầu

3.3. Xu hướng tiêu dùng bền vững

3.4. Quan điểm phát triển bền vững của Nhà nước

3.5. Giải pháp đối với doanh nghiệp

3.6. Giải pháp đối với nhà quản lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

Tóm tắt

I. Tổng quan về kinh tế tuần hoàn và ngành hàng tiêu dùng nhanh

Kinh tế tuần hoàn (KTTH) là mô hình kinh tế khép kín, tập trung vào việc tái sử dụng, tái chế và giảm thiểu chất thải. Trong khi đó, ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) bao gồm các sản phẩm như thực phẩm đóng gói, đồ uống, và sản phẩm chăm sóc cá nhân, thường có vòng đời ngắn và tác động môi trường lớn. Việc áp dụng KTTH trong ngành FMCG là cần thiết để giảm thiểu tác động môi trường và tối ưu hóa sử dụng tài nguyên. Các quốc gia như Hà Lan, Trung Quốc, và Nhật Bản đã triển khai thành công mô hình này, mang lại lợi ích kinh tế và môi trường đáng kể.

1.1. Khái niệm và lợi ích của kinh tế tuần hoàn

Kinh tế tuần hoàn được định nghĩa là hệ thống kinh tế khép kín, tập trung vào việc tái tạo và phục hồi tài nguyên thông qua tái chế, tái sử dụng. Mô hình này giúp kéo dài vòng đời sản phẩm, giảm thiểu chất thải và tác động xấu đến môi trường. Lợi ích của KTTH bao gồm tăng trưởng kinh tế bền vững, tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, và tạo cơ hội việc làm. Theo Quỹ Ellen MacArthur, áp dụng KTTH có thể tiết kiệm tới 700 tỷ USD trong ngành FMCG toàn cầu.

1.2. Thực trạng ngành hàng tiêu dùng nhanh tại Việt Nam

Ngành FMCG tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, nhưng vẫn dựa chủ yếu vào mô hình kinh tế tuyến tính, dẫn đến lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Các sản phẩm FMCG thường có vòng đời ngắn, ít được tái chế, và phần lớn chất thải được đưa vào bãi chôn lấp. Việc chuyển đổi sang mô hình KTTH là cần thiết để giảm thiểu tác động môi trường và tối ưu hóa sử dụng tài nguyên.

II. Thực trạng và tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành FMCG tại Việt Nam

Việc áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành FMCG tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, chủ yếu dừng lại ở mức độ lý thuyết. Mặc dù đã có một số doanh nghiệp triển khai các mô hình tái chế và tái sử dụng, nhưng quy mô còn nhỏ lẻ và chưa được nhân rộng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp Circulytics để đánh giá mức độ áp dụng KTTH của các doanh nghiệp trong ngành FMCG, từ đó phân tích tiềm năng và rào cản trong việc chuyển đổi sang mô hình bền vững này.

2.1. Đánh giá thực trạng áp dụng KTTH

Theo kết quả khảo sát, phần lớn các doanh nghiệp FMCG tại Việt Nam chưa áp dụng đầy đủ các nguyên tắc của KTTH. Các hoạt động tái chế và tái sử dụng còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc giảm thiểu chất thải trong quá trình sản xuất. Các rào cản chính bao gồm thiếu nguồn lực tài chính, công nghệ lạc hậu, và thiếu chính sách hỗ trợ từ nhà nước.

2.2. Tiềm năng và cơ hội phát triển KTTH

Mặc dù còn nhiều thách thức, ngành FMCG tại Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc áp dụng KTTH. Các doanh nghiệp có thể tận dụng cơ hội hợp tác quốc tế để chuyển giao công nghệ và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đi đầu trong lĩnh vực này. Ngoài ra, việc thúc đẩy các chính sách hỗ trợ từ nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi.

III. Giải pháp thúc đẩy áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành FMCG

Để thúc đẩy việc áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành FMCG tại Việt Nam, cần có sự kết hợp giữa các giải pháp từ phía doanh nghiệp và nhà nước. Các doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ tái chế và tái sử dụng, đồng thời nâng cao nhận thức về lợi ích của KTTH. Nhà nước cần ban hành các chính sách hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho quá trình chuyển đổi.

3.1. Giải pháp đối với doanh nghiệp

Các doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ tái chế và tái sử dụng, đồng thời thiết kế các sản phẩm có vòng đời dài hơn. Ngoài ra, việc hợp tác với các tổ chức quốc tế để học hỏi kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ cũng là một giải pháp hiệu quả.

3.2. Giải pháp đối với nhà nước

Nhà nước cần ban hành các chính sách hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các doanh nghiệp áp dụng KTTH. Đồng thời, cần xây dựng các quy định pháp lý để thúc đẩy việc tái chế và tái sử dụng trong ngành FMCG.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE MÔ HÌNH KINH TE TUẦN HOÀN VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ VIỆC ÁP DỤNG KINH TE TUẦN HOÀN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Tong quan về kinh tế tuyến tính và kinh tế tuần hoàn 1. Kinh tế tuyến tính 1. Khái niệm Theo M.DeCourcey (2016): “Kinh tế tuyến tính là mô hình kinh tế thường bắt đầu từ công đoạn khai thác nguyên liệu thô, sau đó sản xuất, chế biến thành các sản phẩm, được sử dụng và cuối cùng là thải bỏ ra môi trường” KTTT là sự chuyên đổi tài nguyên thành chat thải.

Các công ty khai thác nguyên liệu đầu vào, sản xuất, chế biến tạo ra sản phâm và phân phối đến người tiêu dùng. Những sản phẩm này sau đó sẽ trở thành phế thải khi chúng không còn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Điều này sẽ dẫn đến những thách thức về suy giảm ngu6n tài nguyên, 6 nhiễm môi trường, v. Mô hình KT TT Nguyên liệu thô Nguôn: Dựa theo báo cáo của Chính phủ Hà Lan 1.

Hạn chế của kinh tế tuyến tính Nền KTTT là kết quả của các hoạt động kinh doanh giả định nguồn cung cấp tài nguyên không đổi. Điều này đã dẫn đến tâm lý mua mang về. Tâm lý này dựa trên việc khai thác tài nguyên, sản xuất hàng hóa, dịch vụ và xử lý chất thải sau tiêu dùng. Tuy nhiên, cách tiếp cận này đang chịu áp lực ngày càng lớn vì những bat lợi về môi trường và kinh tế, thé hiện ở những góc độ sau: Thứ nhất, KTTT gây anh hưởng đối với hệ sinh thai Ảnh hưởng về mặt sinh thái của nền KTTT là việc sản xuất hàng hóa phải trả giá bằng năng suất của các hệ sinh thái (HST).

Áp lực quá mức lên các HST này gây nguy hiểm cho các dịch vụ HST thiết yếu, chăng hạn như làm sạch nước, không khí và đất (Michelini, Moraes và cộng sự, 2017). Các quy trình trong mô hình KTTT ảnh hưởng đến các HST theo những cách khác nhau. Việc khai thác nguyên liệu thô và hình thành sản phẩm dẫn đến sử dụng nhiều năng lượng và nước, phát thải các chất độc hại và phá vỡ vôn tự nhiên như rừng và hô. Thứ hai, KTTT gây ảnh hưởng đổi với nên kinh tế Ngoài những thiệt hại gây ra đối với các dịch vụ HST, mô hình kinh tế này cũng gây nguy hiểm cho việc cung cấp nguyên liệu.

Sự không chắc chắn này là do giá nguyên vật liệu biến động, nguyên liệu khan hiếm và nhu cầu ngày càng tăng. Biến động giá tài nguyên: Kể từ năm 2006, mức độ biến động của giá tài nguyên đã gia tăng đáng kể. Điều này không chỉ gây ra vấn đề cho người khai thác và người mua nguyên liệu mà còn tạo ra rủi ro lớn hơn trên thị trường. Hơn nữa, sự biến động này ngăn cản các công ty đưa ra dự báo về giá, điều này khiến họ có vị thế cạnh tranh yếu hơn so với các công ty ít phụ thuộc vào vật chất (Circle Economy, 2018a).

Sự khan hiém nguyên liệu: Một nhược điểm khác của hệ thống KTTT hiện tại là phần lớn được sản xuất với nguyên liệu khan hiếm. Tuy nhiên, những nguyên liệu nay chỉ có san ở một mức độ rất hạn chế. Đặc biệt, các ngành chế tạo kim loại, công nghiệp máy tính và điện tử, thiết bị điện, ô tô và xe cộ đều sử dụng những nguyên liệu thô này. Nhu cầu nguyên vật liệu ngày càng tăng: Ngoài việc nguồn cung nguyên liệu thô có san hạn chế, nhu cầu nguyên liệu cũng được dự đoán sẽ tăng lên đáng kể.

Do sự gia tăng dân số và phúc lợi, số lượng người tiêu dùng thuộc tầng lớp trung lưu (có nhu cầu tiêu dùng vật chất cao hơn) sẽ tăng thêm ba tỷ người vào năm 2030 (Circle Economy, 2018a). Ngoài ra, tuôi thọ của các sản phẩm đã giảm đáng kể trong những năm gan đây, bởi vì có một quá trình phản hồi tích cực: người tiêu dùng muốn sản phẩm mới nhanh hơn và do đó sử dụng sản phẩm "cũ" của họ ngắn hơn (Circle Economy, 2018a). Kinh tế tuần hoàn 1. Khái niệm KTTH không phải là một khái niệm mới, những ý tưởng đầu tiên về KTTH đã xuất hiện trong nông nghiệp từ thế kỷ 18.

Gần đây, theo thống kê đã có tới 114 định nghĩa khác nhau về KTTH được sử dụng trong các tài liệu khoa học và tạp chí chuyên nghiệp (Kirchherr, Reike và Hekkert, 2017). Định nghĩa được biết đến rộng rãi nhất đưa ra tại Hội nghị Kinh tế toàn cầu năm 2012 bởi Quỹ Ellen MacArthur là: “Kinh tế tuần hoàn là một hệ thống kinh tế phát triển trên nền tảng các mô hình kinh doanh có tính tái tạo và khôi phục thông qua các kế hoạch và thiết kế chủ động, chuyển dịch theo hướng sử dụng năng lượng tái tạo, không dùng các hóa chất độc hại gây tôn hại tới việc tái sử dụng và hướng tới giảm thiểu chất thải. Nó thay thế khái niệm kết thúc vòng đời của vật liệu bằng việc giảm thiểu sử dụng, tái sử dụng, tái chế và khôi phục vật liệu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.” Năm 2017, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) cũng đưa ra quan diém về KTTH là: “Nền kinh tế tuần hoàn là một phương thức mới dé tạo ra giá trị, và cuối cùng là sự thịnh vượng. Nó hoạt động bằng cách kéo dài tuổi thọ sản pham thông qua cải tiến thiết kế và dich vụ, đồng thời chuyên chat thải từ cuối chuỗi cung ứng trở lại điểm đầu, qua đó sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn bằng cách sử dụng chúng nhiều lần chứ không chỉ một lần”.

Tại Việt Nam, khái niệm KTTH lần đầu được luật hóa trong Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) 2020 tại Khoản 1, Điều 142: “Kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo đài vòng đời sản phẩm, hạn chế chat thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường” Tuu chung lại, KTTH ngụ ý là một hệ thống khép kín, dựa trên cơ sở tái tạo và phục hồi bằng cách tái chế, tái sử dụng các nguồn tài nguyên dé kéo dài và tối ưu hóa việc sử dụng sản phẩm nhằm hạn chế các tác động xấu đến môi trường, cải thiện chất lượng HST và kinh tế - xã hội một cách bền vững. Mô hình KTTH Nguồn: Dựa theo báo cáo của Chính phi Hà Lan Mô hình KTTH có những đặc điểm khác biệt so với mô hình KTTT: Thứ nhất, KTTH và KTTT khác nhau ở cách thức sản xuất hàng hóa và duy trì giá tri. Theo truyền thống, mô hình KTTT tuân theo quy trình “take - make - use - dispose”. Điều này có nghĩa là nguyên liệu thô được khai thác, sau đó chuyển hóa thành sản phẩm, được sử dụng cho đến cuối cùng bị loại bỏ như chất thải.

Giá trị được tạo ra trong mô hình kinh tế này bằng cách sản xuất và tiêu thụ sản phâm nhiều nhất có thể Khác với KT TT, mô hình KT TH hoạt động dựa trên các tiêu chí “reduce - reuse - recycle - recover materials”. Điều đó có nghĩa là giảm thiêu việc khai thác các nguồn nguyên vật liệu đầu vào, tái sử dụng hàng hoá, sản phẩm, tối đa hoá giá trị các nguồn tài nguyên thông qua tái chế, phục hồi vật liệu, tuần hoàn chất thải. Trong hệ thống này, giá trị kinh tế được tạo ra bang cách tập trung vào việc bảo toàn và kéo dai tuổi thọ của sản phẩm Thứ hai, KTTH và KTTT khác nhau ở quan điểm về tính bén vững. Trong KTTT, trọng tâm của tính bền vững là hiệu quả sinh thái, có nghĩa là cố gang hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến HST dé có được cùng một sản lượng.

Điều này chỉ kéo giãn khoảng thời gian hệ thống trở nên quá tải. Do đó, các hoạt động này chỉ nhằm giải quyết các vấn đề ngắn hạn, không có tác động về lâu dài. Còn trong KTTH, quan điểm tính bền vững chú trọng vào việc nâng cao hiệu suất của HST. Điều đó có nghĩa là bên cạnh việc hạn chế các ảnh hưởng xấu đến HST, các hoạt động trong nền KTTH còn cải thiện chat lượng môi trường và xã hội.

Lợi ích của kinh tế tuần hoàn Hiện nay, KTTH được áp dụng, triển khai tại nhiều quốc gia trên thế giới. Mô hình này tạo ra những tác động tích cực tới việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững, thé hiện dưới các góc độ sau: a. Lợi ích về kinh tế KTTH thúc day tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, tạo cơ hội việc làm và tăng cường đổi mới Thúc day tăng trưởng kinh tế: Một nguyên tắc quan trọng của KTTH là tách biệt giữa việc tiêu thụ tải nguyên và tăng trưởng kinh tế. Do đó, những thay đôi trong quá trình sản xuất thông qua các hoạt động của KTTH sẽ dẫn đến sự tăng doanh thu, gián tiếp bố sung cho tăng trưởng chung, tạo nên sự thay đổi tích cực trong GDP.

Trên con đường phát trién KTTH, GDP của châu Âu có thé tăng tới 11% vào năm 2030 và 27% vào năm 2050 (Ellen MacArthur 2015). Tiết kiệm chỉ phí nguyên vật liệu: Theo Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP 2017) đã tính toán rằng vào năm 2050, nền kinh tế toàn cầu sẽ được hưởng lợi từ việc sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn khoảng 2 nghìn tỷ đô la mỗi năm. Quỹ Ellen MacArthur (2012) đã ước tính rằng, trong các lĩnh vực sản phâm phức tạp có tuổi thọ trung bình ở EU, cơ hội tiết kiệm chi phí nguyên liệu ròng hàng năm lên tới 630 tỷ USD. Đối với ngành FMCG quỹ ước tính lên tới 700 tỷ USD trên toàn cầu (Ellen MacArthur 2013).

Tao cơ hội việc làm: Gia trị của người lao động được đánh giá cao hơn trong nền KTTH. Quá trình sữa chữa, tái chế đòi hỏi lao động có kỹ năng và chuyên môn cao dé tạo ra các sản phẩm, vật liệu lâu bền và dé dàng tháo rời ở các giai đoạn chuyển đổi, sản xuất. Đồng thời, số lượng các công việc ít chuyên môn sẽ giảm do sự cần thiết của việc khai thác, chế biến nguyên liệu thô giảm. Những công việc này sẽ mở rộng cho việc tái chế sử dụng, đòi hỏi nhiều lao động chất lượng cao; việc làm trong lĩnh vực hậu cần thông qua việc thu hồi sản phẩm của địa phương; trong các DN vừa và nhỏ thông qua các mô hình kinh doanh mới.

Tăng cường sự đổi mới: Việc chuyền đôi từ nền KTTT sang KTTH đòi hỏi phải có các nghiên cứu sáng tạo dựa trên một lối tư duy mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá thực trạng và tiềm năng kinh tế tuần hoàn trong ngành hàng tiêu dùng nhanh tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại và triển vọng của kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực tiêu dùng nhanh. Tác giả phân tích các thách thức và cơ hội mà ngành này đang đối mặt, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn kinh doanh hoặc nghiên cứu.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về quản lý chất thải và phát triển bền vững, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại thành phố hà nội, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về quản lý chất thải. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế tại việt nam cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa nợ công và phát triển kinh tế, một yếu tố quan trọng trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Cuối cùng, tài liệu Luận án ts phân tích chuỗi giá trị và hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi cá tra ở đồng bằng sông cửu long sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến kinh tế tuần hoàn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả.