Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG - Fast Moving Consumer Goods) giữ vai trò trọng yếu trong nền kinh tế toàn cầu. Theo báo cáo của Allied Market Research (2019), quy mô thị trường FMCG toàn cầu đạt 10.020,0 tỷ USD vào năm 2017 và dự báo chạm mốc 15.361,8 tỷ USD vào năm 2025 với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 5,4%. Tuy nhiên, mô hình vận hành của ngành FMCG chủ yếu dựa trên nền kinh tế tuyến tính (KTTT) theo quy trình khai thác - sản xuất - phân phối - tiêu dùng - thải bỏ. Các mặt hàng FMCG (thực phẩm đóng gói, đồ uống, hóa mỹ phẩm cá nhân, thuốc không kê đơn...) có đặc thù đơn giá thấp, tần suất tiêu dùng cao và vòng đời ngắn. Mặc dù thực phẩm, đồ uống và hàng may mặc chiếm khoảng 35% nguyên liệu sử dụng toàn cầu, có tới khoảng 80% nguyên liệu sử dụng cho FMCG cuối cùng bị chôn lấp, đốt bỏ hoặc xả vào nguồn nước thải (Hawken, Lovins & Lovins, 2014; Park, 2015b).
Tại Việt Nam, kinh tế tuần hoàn (KTTH) đã bước đầu được luật hóa và quan tâm, song việc triển khai thực tế trong sản xuất kinh doanh còn ở giai đoạn sơ khai, phần lớn dừng lại ở mức độ lý thuyết. Nhằm giải quyết áp lực suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế, đề tài "Đánh giá thực trạng và tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành hàng tiêu dùng nhanh tại Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Tình (Khoa Môi trường, Biến đổi khí hậu và Đô thị, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Hà Thanh.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng áp dụng mô hình KTTH trong các doanh nghiệp ngành FMCG tại Việt Nam.
- Phân tích những cơ hội và rào cản của doanh nghiệp FMCG trong quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đối với doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy áp dụng KTTH trong ngành FMCG.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động và mức độ áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành hàng tiêu dùng nhanh.
- Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp thuộc ngành FMCG tại Việt Nam, bao gồm nhóm sản xuất nguyên phụ liệu, nhóm chế biến/sản xuất sản phẩm và nhóm sản xuất phụ trợ (bao bì, phụ gia). Số liệu khảo sát được thu thập và phân tích vào tháng 12/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm, khung đánh giá chuẩn quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam:
- Khung khái niệm KTTH: Tiếp cận định nghĩa của Quỹ Ellen MacArthur (EMF, 2012), Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO, 2017) và Khoản 1 Điều 142 Luật Bảo vệ Môi trường 2020. KTTH vận hành dựa trên 3 nguyên tắc cốt lõi của EMF: (1) Thiết kế loại bỏ chất thải và ô nhiễm; (2) Giữ cho sản phẩm và nguyên liệu được sử dụng với giá trị cao nhất; (3) Tái tạo các hệ thống tự nhiên.
- Mô hình ReSOLVE (EMF, 2015): Hệ thống hóa 6 nhóm giải pháp tuần hoàn gồm: Tái tạo (Regenerate), Chia sẻ (Share), Tối ưu hóa (Optimise), Tái chế/Vòng lặp (Loop), Số hóa (Virtualise), Chuyển đổi (Exchange).
- Phương pháp Circulytics (EMF, 2020): Khóa luận điều chỉnh phương pháp đo lường Circulytics để phù hợp với đặc thù doanh nghiệp sản xuất chế biến FMCG tại Việt Nam (loại bỏ tiêu chí dịch vụ và tài chính thuần túy, bổ sung tiêu chí bao bì thực phẩm, hóa chất/phụ gia và hoạt động phục hồi hệ sinh thái).
Điểm sẵn sàng áp dụng KTTH = (50% × Điểm Chuẩn bị) + (50% × Điểm Hoạt động)
Bộ công cụ đánh giá gồm 41 chỉ số thuộc 12 tiêu chí, phân bổ đều trọng số cho 2 nhóm:
| Nhóm lĩnh vực |
STT |
Tiêu chí đánh giá |
Số chỉ số |
Trọng số |
| Yếu tố Chuẩn bị (50%) |
1 |
Chiến lược và kế hoạch |
5 |
15% |
|
2 |
Nghiên cứu và Phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo |
4 |
10% |
|
3 |
Con người |
3 |
10% |
|
4 |
Cơ sở dữ liệu chuỗi cung ứng |
5 |
7,5% |
|
5 |
Hợp tác và truyền thông |
5 |
7,5% |
| Thực hiện Hoạt động (50%) |
6 |
Sử dụng nguyên liệu, sản phẩm, chất thải |
2 |
15% |
|
7 |
Sử dụng bao bì thực phẩm |
5 |
10% |
|
8 |
Sử dụng nước |
2 |
5% |
|
9 |
Sử dụng năng lượng |
2 |
5% |
|
10 |
Sử dụng hóa chất, phụ gia |
1 |
2,5% |
|
11 |
Sử dụng trang thiết bị, cơ sở hạ tầng |
2 |
5% |
|
12 |
Hoạt động góp phần phục hồi hệ sinh thái |
5 |
7,5% |
| Tổng cộng |
|
12 tiêu chí |
41 |
100% |
Thang đo phân loại mức độ áp dụng KTTH: Dẫn đầu (Mức A: 88,89–100 điểm; A-: 71,78–88,89 điểm); Nâng cao (Mức B: 66,67–77,78 điểm; B-: 55,56–66,67 điểm); Trung bình (Mức C: 44,44–55,56 điểm; C-: 33,33–44,44 điểm); Mới bắt đầu (Mức D: 22,22–33,33 điểm; D-: 11,11–22,22 điểm); Chưa bắt đầu (Mức E: 0–11,11 điểm).
- Nguồn dữ liệu: Bộ dữ liệu khảo sát từ 88 doanh nghiệp FMCG tại Việt Nam do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện trong khuôn khổ khảo sát chuyển đổi mô hình kinh tế tuần hoàn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình kinh tế tuần hoàn và các mô hình đánh giá việc áp dụng kinh tế tuần hoàn trong các doanh nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa sự khác biệt giữa mô hình kinh tế tuyến tính ("khai thác - sản xuất - sử dụng - thải bỏ") và mô hình kinh tế tuần hoàn ("giảm thiểu - tái sử dụng - tái chế - phục hồi vật liệu"). Tác giả phân tích các tác động tiêu cực của KTTT đối với sự suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm dịch vụ hệ sinh thái, đồng thời chứng minh lợi ích đa chiều của KTTH về tăng trưởng GDP (EU dự kiến tăng 11% vào năm 2030 và 27% vào năm 2050), tiết kiệm chi phí nguyên liệu (ngành FMCG toàn cầu có thể tiết kiệm 700 tỷ USD theo tính toán của EMF), tạo việc làm và giảm phát thải khí nhà kính (62% phát thải toàn cầu bắt nguồn từ khai thác, chế biến nguyên vật liệu).
Nghiên cứu tổng hợp kinh nghiệm triển khai KTTH từ 6 quốc gia và khu vực:
- Liên minh Châu Âu (EU): Ban hành Kế hoạch hành động KTTH (2015, 2020), đặt mục tiêu tái chế 70% bao bì vào năm 2030, bắt buộc 30% nhựa tái chế trong chai nước giải khát từ năm 2030 và thu gom 90% chai nhựa vào năm 2029.
- Nhật Bản: Ban hành Đạo luật Cơ bản thành lập một xã hội tái chế (2003), đạt tỷ lệ tái chế kim loại 98%, chỉ còn 5% chất thải chôn lấp.
- Đức: Luật Quản lý chất thải và Chu trình khép kín (1996), Luật Đóng gói (1991) với cơ chế đặt cọc hoàn trả vỏ chai và hệ thống phân loại rác "Green Dot".
- Trung Quốc: Ban hành Luật Thúc đẩy KTTH (2009) và Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 (2021-2025), đạt tỷ lệ sử dụng chất thải rắn 56%, sử dụng rơm rạ 86% vào năm 2020.
- Hà Lan: Chương trình KTTH quốc gia (2016) hướng tới giảm 50% nguyên liệu thô vào năm 2030, ứng dụng công nghệ rào chắn bong bóng (The Great Bubble Barrier) thu gom rác nhựa tại Amsterdam.
- Australia: Triển khai các chiến lược quản lý chất thải và phục hồi tài nguyên tại New South Wales, Queensland, Tây Úc và cấm chôn lấp rác điện tử tại Victoria (2019).
Chương 1 cũng rà soát các chính sách của Việt Nam từ Chỉ thị 36-CT/TW (1998), Nghị quyết 41-NQ/TW (2004), Luật BVMT 2005, 2014 đến Luật BVMT 2020 (luật hóa khái niệm KTTH tại Điều 142) và phân tích công cụ khung ReSOLVE cùng phương pháp Circulytics.
Chương 2: Đánh giá thực trạng và tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành hàng tiêu dùng nhanh tại Việt Nam
Chương 2 trình bày kết quả phân tích số liệu từ 88 doanh nghiệp FMCG (gồm 18% DN sản xuất nguyên phụ liệu, 66% DN sản xuất chế biến thành phẩm và 16% DN tích hợp cả hai).
| Phân loại mức độ áp dụng KTTH |
Điểm tổng hợp (%) |
Điểm Chuẩn bị (%) |
Điểm Hoạt động (%) |
| Dẫn đầu (Mức A, A-) |
0,00% |
1,14% |
1,14% |
| Nâng cao (Mức B, B-) |
7,60% |
10,22% |
9,10% |
| Trung bình (Mức C, C-) |
33,67% |
23,86% |
36,36% |
| Mới bắt đầu (Mức D, D-) |
51,13% |
43,18% |
48,86% |
| Chưa bắt đầu (Mức E) |
7,60% |
21,60% |
4,54% |
| Điểm trung bình |
31,17 (Mức D) |
29,19 (Mức D) |
33,15 (Mức D) |
Kết quả chi tiết theo 12 tiêu chí đánh giá:
- Chiến lược và kế hoạch (27,00 điểm): 79,54% DN có chiến lược/kế hoạch ở mức độ sơ khởi, nhưng chỉ 13,63% coi KTTH là giá trị cốt lõi và 5,68% đang triển khai kế hoạch thực tế.
- R&D và đổi mới sáng tạo (42,41 điểm): 31,81% đang xây dựng dự án, 14,79% thử nghiệm, 9,09% áp dụng rộng rãi; còn 44,31% chưa có hoạt động R&D.
- Con người (22,53 điểm): 50,00% DN chưa có nhân sự/bộ phận chuyên trách KTTH; 59,00% chưa tổ chức đào tạo nội bộ; 61,36% chưa cử nhân sự tham gia tập huấn.
- Cơ sở dữ liệu (42,16 điểm): 17,05% có quy định thành phần nguyên liệu đối với nhà cung ứng; 6,83% có quy định về tỷ lệ nguyên liệu tái chế và năng lượng tái tạo.
- Hợp tác truyền thông (14,50 điểm - thấp nhất): Khoảng 65% DN chưa hợp tác với các bên liên quan; chỉ 4,54% hợp tác toàn diện với nhà cung ứng; 6,81% tham gia đóng góp ý kiến chính sách.
- Sử dụng nguyên liệu, sản phẩm, chất thải (45,06 điểm - cao nhất): 64,77% sử dụng nguyên liệu có thể thu hồi/tái chế; 72% có hoạt động thu hồi phụ phẩm/chất thải (36,36% làm sản phẩm phụ, 38,63% tái sử dụng); tuy nhiên chỉ 38,63% đo lường được tỷ lệ thu hồi.
- Sử dụng bao bì thực phẩm (33,67 điểm): 94,3% quan tâm đến tính tiện lợi, xếp dọn; 25% quan tâm tỷ lệ tái chế bao bì nhưng chỉ 12,5% nắm được thông tin này; 38,63% tái sử dụng bao bì và 13,63% tái chế.
- Sử dụng nước (19,08 điểm): 48,86% không tuần hoàn hoặc không biết; 51,14% có tuần hoàn ít nhất 1 nguồn nước thải; chỉ 25% đo lường được lượng nước tuần hoàn.
- Sử dụng năng lượng (17,60 điểm): 35,23% có hoạt động tiết kiệm năng lượng; 35,22% có công trình năng lượng tái tạo (sinh khối 13,63%, biogas 7,95%, điện mặt trời 21,59%); nhưng chỉ 17,04% thực tế sử dụng năng lượng tái tạo vào sản xuất.
- Sử dụng hóa chất, phụ gia: 38,64% có sử dụng hóa chất; chỉ 13,63% nghiên cứu ảnh hưởng của hóa chất đến khả năng thu hồi, tái chế.
- Trang thiết bị, cơ sở hạ tầng: 79,54% có kế hoạch bảo trì định kỳ; 50% doanh nghiệp thuê ngoài trang thiết bị có cân nhắc tiêu chí môi trường và vòng đời.
- Phục hồi hệ sinh thái: 61,36% tối ưu hóa nguồn lực sản xuất; 51,13% áp dụng công nghệ mới; nhưng chỉ 20,45% dùng vật liệu/năng lượng tái tạo và 14,77% tham gia hoàn trả tự nhiên.
So sánh 9 nhóm ngành sản phẩm cho thấy: Nhóm sản xuất bánh kẹo, đồ ăn liền đạt điểm cao nhất (53,74 điểm - Mức C), dẫn đầu ở tiêu chí cơ sở dữ liệu (68,40 điểm) và con người (61,80 điểm). Ba nhóm vượt qua mức mới bắt đầu gồm: Bánh kẹo/đồ ăn liền, Đồ uống không cồn, Sữa và sản phẩm từ sữa. Nhóm có điểm thấp nhất là chế biến chè, trà, cà phê (26,36 điểm - Mức D).
Về rào cản chuyển đổi:
- 54% DN gặp khó khăn tổng thể khi chuyển đổi sang KTTH (52,27% khó khăn về tài chính, 45,45% về kỹ thuật - công nghệ, 36,36% về cơ chế chính sách).
- Áp lực thị trường còn yếu: chỉ 20% DN nhận yêu cầu tiêu chuẩn xanh từ khách hàng.
- Thực thi Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR - Điều 54 Luật BVMT 2020): chỉ 19,31% DN có sự chuẩn bị nội bộ, trong khi 57,95% cho rằng đơn vị mình không thuộc đối tượng áp dụng.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành hàng tiêu dùng nhanh
Chương 3 xây dựng các nhóm khuyến nghị dựa trên 3 căn cứ: (1) Xu hướng KTTH toàn cầu; (2) Xu hướng tiêu dùng bền vững (khảo sát Nielsen 2017 chỉ ra 86% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm bền vững; khảo sát Circular Colab 2018); (3) Định hướng phát triển bền vững theo Nghị quyết 136/NQ-CP của Chính phủ.
Giải pháp đối với doanh nghiệp FMCG:
- Chiến lược và R&D: Đưa KTTH thành giá trị cốt lõi trong điều lệ và chiến lược công ty; phân bổ ngân sách riêng cho R&D thiết kế sinh thái (Eco-design), chuyển đổi sang bao bì đơn chất dễ tái chế.
- Nhân sự và dữ liệu: Thành lập bộ phận chuyên trách về KTTH; tổ chức đào tạo nội bộ định kỳ; xây dựng bộ tiêu chuẩn mua sắm xanh áp đặt lên nhà cung ứng nguyên liệu.
- Vận hành kỹ thuật: Đầu tư công nghệ khép kín nguồn nước thải, tận dụng nhiệt ngưng tụ nồi hơi và tích hợp nguồn điện mặt trời mái nhà phục vụ trực tiếp dây chuyền sản xuất.
- Liên kết chuỗi: Hợp tác với các đơn vị thu gom, tái chế chuyên nghiệp và các đối thủ trong ngành nhằm thiết lập mạng lưới thu hồi sản phẩm sau tiêu dùng.
Giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý: Ban hành hướng dẫn chi tiết về định mức chi phí tái chế (Fs) và quy chuẩn kỹ thuật thực hiện trách nhiệm EPR đối với từng loại bao bì FMCG.
- Công cụ kinh tế: Triển khai các gói tín dụng xanh ưu đãi lãi suất, miễn giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, dây chuyền công nghệ tái chế hiện đại.
- Thị trường nguyên liệu thứ cấp: Thiết lập sàn giao dịch nguyên liệu tái chế, chuẩn hóa chất lượng nhựa tái sinh (rPET, rHDPE) dùng cho thực phẩm.
- Hạ tầng và truyền thông: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về KTTH; đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi hành vi phân loại rác tại nguồn của người tiêu dùng.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa số liệu thực nghiệm: Khóa luận cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về mức độ sẵn sàng KTTH của 88 doanh nghiệp FMCG tại Việt Nam với điểm số trung bình 31,17/100 (thuộc mức mới bắt đầu).
- Phát hiện các điểm nghẽn trọng yếu: Chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa các tiêu chí nội bộ doanh nghiệp (sử dụng nguyên liệu đạt 45,06 điểm, R&D đạt 42,41 điểm) với các tiêu chí mang tính liên kết hệ thống (hợp tác truyền thông chỉ đạt 14,50 điểm; sử dụng năng lượng 17,60 điểm; sử dụng nước 19,08 điểm).
- Đóng góp phương pháp luận: Điều chỉnh và cụ thể hóa thành công bộ công cụ đo lường Circulytics của Ellen MacArthur Foundation thành bộ chỉ số 41 tiêu chí phù hợp với điều kiện vận hành và dữ liệu của các doanh nghiệp chế biến, sản xuất FMCG tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về quy mô và cơ cấu mẫu: Mẫu khảo sát gồm 88 doanh nghiệp do VCCI thực hiện, tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa phản ánh đầy đủ mọi phân khúc chuyên biệt trên toàn quốc.
- Hạn chế về thời gian và dữ liệu: Khóa luận sử dụng dữ liệu cắt ngang tại thời điểm tháng 12/2021, chưa đánh giá được biến động theo chuỗi thời gian khi Nghị định hướng dẫn Luật Bảo vệ Môi trường 2020 chính thức có hiệu lực thi hành.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát với cỡ mẫu lớn hơn; đánh giá sâu hơn về chi phí - lợi ích tài chính (Cost-Benefit Analysis) khi doanh nghiệp đầu tư dây chuyền tái chế khép kín; nghiên cứu tác động thực tế của quy định EPR đối với ngành bao bì nhựa thực phẩm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên và học viên: Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kinh tế Môi trường, Quản trị Kinh doanh khi tìm kiếm phương pháp luận ứng dụng công cụ Circulytics và mô hình ReSOLVE vào phân tích doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp ngành FMCG: Sử dụng bảng 12 tiêu chí và 41 chỉ số làm công cụ tự đánh giá (self-assessment) mức độ tuần hoàn nội bộ, từ đó xây dựng lộ trình chuẩn bị cho các quy định EPR.
- Nhà hoạch định chính sách: Cung cấp bằng chứng thực tế về những khó khăn về vốn (52,27%), công nghệ (45,45%) và nhận thức EPR (57,95% chưa rõ trách nhiệm) để thiết kế chính sách hỗ trợ phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Điểm sẵn sàng áp dụng kinh tế tuần hoàn trung bình của các doanh nghiệp FMCG Việt Nam là bao nhiêu và thuộc mức phân loại nào?
Điểm sẵn sàng trung bình của 88 doanh nghiệp FMCG khảo sát đạt 31,17 điểm trên thang điểm 100, xếp ở mức D (Mức Mới bắt đầu). Điểm số ở nhóm yếu tố Chuẩn bị đạt 29,19 điểm và nhóm Hoạt động đạt 33,15 điểm.
2. Tiêu chí nào đạt điểm cao nhất và tiêu chí nào đạt điểm thấp nhất trong 12 tiêu chí khảo sát?
Tiêu chí đạt điểm cao nhất là "Sử dụng nguyên liệu, sản phẩm, chất thải" với 45,06 điểm (đạt mức C - Trung bình). Tiêu chí đạt điểm thấp nhất là "Hợp tác, truyền thông" với 14,50 điểm (mức D- - Cận dưới của Mới bắt đầu).
3. Trong 9 nhóm ngành hàng khảo sát, nhóm ngành nào có mức độ áp dụng KTTH cao nhất?
Nhóm doanh nghiệp chế biến bánh kẹo, đồ ăn liền đạt điểm trung bình cao nhất ngành với 53,74 điểm (Mức C - Trung bình), vượt trội ở tiêu chí cơ sở dữ liệu (68,40 điểm) và nhân sự (61,80 điểm).
4. Tỷ lệ doanh nghiệp FMCG gặp khó khăn khi chuyển đổi sang mô hình KTTH và các trở ngại chính là gì?
Có 54% doanh nghiệp khảo sát cho biết gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi. Trong đó, trở ngại lớn nhất là khó khăn về tài chính (52,27%), tiếp theo là khó khăn về công nghệ - kỹ thuật (45,45%) và khó khăn về chính sách (36,36%).
5. Thực trạng chuẩn bị thực hiện Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) theo Luật BVMT 2020 tại các doanh nghiệp FMCG như thế nào?
Mặc dù toàn bộ 88 doanh nghiệp đều sử dụng bao bì thực phẩm, chỉ có 19,31% doanh nghiệp cho biết đã có hoạt động chuẩn bị nội bộ cho EPR, trong khi có tới 57,95% doanh nghiệp cho rằng đơn vị mình không thuộc đối tượng phải thực hiện quy định này.
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Tình đã phân tích thực trạng chuyển đổi mô hình kinh tế tuần hoàn của 88 doanh nghiệp FMCG tại Việt Nam dựa trên phương pháp Circulytics điều chỉnh. Kết quả chỉ ra rằng các doanh nghiệp FMCG đa số mới dừng ở mức độ "Mới bắt đầu" (31,17/100 điểm) và đang đối mặt với rào cản lớn về tài chính, công nghệ và tính liên kết chuỗi giá trị. Đề tài đã đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện cơ chế EPR, chính sách ưu đãi tài chính đến đổi mới R&D thiết kế sinh thái nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch tuần hoàn cho ngành FMCG tại Việt Nam.