CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE MÔ HÌNH KINH TE TUẦN HOÀN VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ VIỆC ÁP DỤNG KINH TE TUẦN HOÀN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Tong quan về kinh tế tuyến tính và kinh tế tuần hoàn 1. Kinh tế tuyến tính 1. Khái niệm Theo M.DeCourcey (2016): “Kinh tế tuyến tính là mô hình kinh tế thường bắt đầu từ công đoạn khai thác nguyên liệu thô, sau đó sản xuất, chế biến thành các sản phẩm, được sử dụng và cuối cùng là thải bỏ ra môi trường” KTTT là sự chuyên đổi tài nguyên thành chat thải.
Các công ty khai thác nguyên liệu đầu vào, sản xuất, chế biến tạo ra sản phâm và phân phối đến người tiêu dùng. Những sản phẩm này sau đó sẽ trở thành phế thải khi chúng không còn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Điều này sẽ dẫn đến những thách thức về suy giảm ngu6n tài nguyên, 6 nhiễm môi trường, v. Mô hình KT TT Nguyên liệu thô Nguôn: Dựa theo báo cáo của Chính phủ Hà Lan 1.
Hạn chế của kinh tế tuyến tính Nền KTTT là kết quả của các hoạt động kinh doanh giả định nguồn cung cấp tài nguyên không đổi. Điều này đã dẫn đến tâm lý mua mang về. Tâm lý này dựa trên việc khai thác tài nguyên, sản xuất hàng hóa, dịch vụ và xử lý chất thải sau tiêu dùng. Tuy nhiên, cách tiếp cận này đang chịu áp lực ngày càng lớn vì những bat lợi về môi trường và kinh tế, thé hiện ở những góc độ sau: Thứ nhất, KTTT gây anh hưởng đối với hệ sinh thai Ảnh hưởng về mặt sinh thái của nền KTTT là việc sản xuất hàng hóa phải trả giá bằng năng suất của các hệ sinh thái (HST).
Áp lực quá mức lên các HST này gây nguy hiểm cho các dịch vụ HST thiết yếu, chăng hạn như làm sạch nước, không khí và đất (Michelini, Moraes và cộng sự, 2017). Các quy trình trong mô hình KTTT ảnh hưởng đến các HST theo những cách khác nhau. Việc khai thác nguyên liệu thô và hình thành sản phẩm dẫn đến sử dụng nhiều năng lượng và nước, phát thải các chất độc hại và phá vỡ vôn tự nhiên như rừng và hô. Thứ hai, KTTT gây ảnh hưởng đổi với nên kinh tế Ngoài những thiệt hại gây ra đối với các dịch vụ HST, mô hình kinh tế này cũng gây nguy hiểm cho việc cung cấp nguyên liệu.
Sự không chắc chắn này là do giá nguyên vật liệu biến động, nguyên liệu khan hiếm và nhu cầu ngày càng tăng. Biến động giá tài nguyên: Kể từ năm 2006, mức độ biến động của giá tài nguyên đã gia tăng đáng kể. Điều này không chỉ gây ra vấn đề cho người khai thác và người mua nguyên liệu mà còn tạo ra rủi ro lớn hơn trên thị trường. Hơn nữa, sự biến động này ngăn cản các công ty đưa ra dự báo về giá, điều này khiến họ có vị thế cạnh tranh yếu hơn so với các công ty ít phụ thuộc vào vật chất (Circle Economy, 2018a).
Sự khan hiém nguyên liệu: Một nhược điểm khác của hệ thống KTTT hiện tại là phần lớn được sản xuất với nguyên liệu khan hiếm. Tuy nhiên, những nguyên liệu nay chỉ có san ở một mức độ rất hạn chế. Đặc biệt, các ngành chế tạo kim loại, công nghiệp máy tính và điện tử, thiết bị điện, ô tô và xe cộ đều sử dụng những nguyên liệu thô này. Nhu cầu nguyên vật liệu ngày càng tăng: Ngoài việc nguồn cung nguyên liệu thô có san hạn chế, nhu cầu nguyên liệu cũng được dự đoán sẽ tăng lên đáng kể.
Do sự gia tăng dân số và phúc lợi, số lượng người tiêu dùng thuộc tầng lớp trung lưu (có nhu cầu tiêu dùng vật chất cao hơn) sẽ tăng thêm ba tỷ người vào năm 2030 (Circle Economy, 2018a). Ngoài ra, tuôi thọ của các sản phẩm đã giảm đáng kể trong những năm gan đây, bởi vì có một quá trình phản hồi tích cực: người tiêu dùng muốn sản phẩm mới nhanh hơn và do đó sử dụng sản phẩm "cũ" của họ ngắn hơn (Circle Economy, 2018a). Kinh tế tuần hoàn 1. Khái niệm KTTH không phải là một khái niệm mới, những ý tưởng đầu tiên về KTTH đã xuất hiện trong nông nghiệp từ thế kỷ 18.
Gần đây, theo thống kê đã có tới 114 định nghĩa khác nhau về KTTH được sử dụng trong các tài liệu khoa học và tạp chí chuyên nghiệp (Kirchherr, Reike và Hekkert, 2017). Định nghĩa được biết đến rộng rãi nhất đưa ra tại Hội nghị Kinh tế toàn cầu năm 2012 bởi Quỹ Ellen MacArthur là: “Kinh tế tuần hoàn là một hệ thống kinh tế phát triển trên nền tảng các mô hình kinh doanh có tính tái tạo và khôi phục thông qua các kế hoạch và thiết kế chủ động, chuyển dịch theo hướng sử dụng năng lượng tái tạo, không dùng các hóa chất độc hại gây tôn hại tới việc tái sử dụng và hướng tới giảm thiểu chất thải. Nó thay thế khái niệm kết thúc vòng đời của vật liệu bằng việc giảm thiểu sử dụng, tái sử dụng, tái chế và khôi phục vật liệu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.” Năm 2017, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) cũng đưa ra quan diém về KTTH là: “Nền kinh tế tuần hoàn là một phương thức mới dé tạo ra giá trị, và cuối cùng là sự thịnh vượng. Nó hoạt động bằng cách kéo dài tuổi thọ sản pham thông qua cải tiến thiết kế và dich vụ, đồng thời chuyên chat thải từ cuối chuỗi cung ứng trở lại điểm đầu, qua đó sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn bằng cách sử dụng chúng nhiều lần chứ không chỉ một lần”.
Tại Việt Nam, khái niệm KTTH lần đầu được luật hóa trong Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) 2020 tại Khoản 1, Điều 142: “Kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo đài vòng đời sản phẩm, hạn chế chat thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường” Tuu chung lại, KTTH ngụ ý là một hệ thống khép kín, dựa trên cơ sở tái tạo và phục hồi bằng cách tái chế, tái sử dụng các nguồn tài nguyên dé kéo dài và tối ưu hóa việc sử dụng sản phẩm nhằm hạn chế các tác động xấu đến môi trường, cải thiện chất lượng HST và kinh tế - xã hội một cách bền vững. Mô hình KTTH Nguồn: Dựa theo báo cáo của Chính phi Hà Lan Mô hình KTTH có những đặc điểm khác biệt so với mô hình KTTT: Thứ nhất, KTTH và KTTT khác nhau ở cách thức sản xuất hàng hóa và duy trì giá tri. Theo truyền thống, mô hình KTTT tuân theo quy trình “take - make - use - dispose”. Điều này có nghĩa là nguyên liệu thô được khai thác, sau đó chuyển hóa thành sản phẩm, được sử dụng cho đến cuối cùng bị loại bỏ như chất thải.
Giá trị được tạo ra trong mô hình kinh tế này bằng cách sản xuất và tiêu thụ sản phâm nhiều nhất có thể Khác với KT TT, mô hình KT TH hoạt động dựa trên các tiêu chí “reduce - reuse - recycle - recover materials”. Điều đó có nghĩa là giảm thiêu việc khai thác các nguồn nguyên vật liệu đầu vào, tái sử dụng hàng hoá, sản phẩm, tối đa hoá giá trị các nguồn tài nguyên thông qua tái chế, phục hồi vật liệu, tuần hoàn chất thải. Trong hệ thống này, giá trị kinh tế được tạo ra bang cách tập trung vào việc bảo toàn và kéo dai tuổi thọ của sản phẩm Thứ hai, KTTH và KTTT khác nhau ở quan điểm về tính bén vững. Trong KTTT, trọng tâm của tính bền vững là hiệu quả sinh thái, có nghĩa là cố gang hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến HST dé có được cùng một sản lượng.
Điều này chỉ kéo giãn khoảng thời gian hệ thống trở nên quá tải. Do đó, các hoạt động này chỉ nhằm giải quyết các vấn đề ngắn hạn, không có tác động về lâu dài. Còn trong KTTH, quan điểm tính bền vững chú trọng vào việc nâng cao hiệu suất của HST. Điều đó có nghĩa là bên cạnh việc hạn chế các ảnh hưởng xấu đến HST, các hoạt động trong nền KTTH còn cải thiện chat lượng môi trường và xã hội.
Lợi ích của kinh tế tuần hoàn Hiện nay, KTTH được áp dụng, triển khai tại nhiều quốc gia trên thế giới. Mô hình này tạo ra những tác động tích cực tới việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững, thé hiện dưới các góc độ sau: a. Lợi ích về kinh tế KTTH thúc day tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, tạo cơ hội việc làm và tăng cường đổi mới Thúc day tăng trưởng kinh tế: Một nguyên tắc quan trọng của KTTH là tách biệt giữa việc tiêu thụ tải nguyên và tăng trưởng kinh tế. Do đó, những thay đôi trong quá trình sản xuất thông qua các hoạt động của KTTH sẽ dẫn đến sự tăng doanh thu, gián tiếp bố sung cho tăng trưởng chung, tạo nên sự thay đổi tích cực trong GDP.
Trên con đường phát trién KTTH, GDP của châu Âu có thé tăng tới 11% vào năm 2030 và 27% vào năm 2050 (Ellen MacArthur 2015). Tiết kiệm chỉ phí nguyên vật liệu: Theo Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP 2017) đã tính toán rằng vào năm 2050, nền kinh tế toàn cầu sẽ được hưởng lợi từ việc sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn khoảng 2 nghìn tỷ đô la mỗi năm. Quỹ Ellen MacArthur (2012) đã ước tính rằng, trong các lĩnh vực sản phâm phức tạp có tuổi thọ trung bình ở EU, cơ hội tiết kiệm chi phí nguyên liệu ròng hàng năm lên tới 630 tỷ USD. Đối với ngành FMCG quỹ ước tính lên tới 700 tỷ USD trên toàn cầu (Ellen MacArthur 2013).
Tao cơ hội việc làm: Gia trị của người lao động được đánh giá cao hơn trong nền KTTH. Quá trình sữa chữa, tái chế đòi hỏi lao động có kỹ năng và chuyên môn cao dé tạo ra các sản phẩm, vật liệu lâu bền và dé dàng tháo rời ở các giai đoạn chuyển đổi, sản xuất. Đồng thời, số lượng các công việc ít chuyên môn sẽ giảm do sự cần thiết của việc khai thác, chế biến nguyên liệu thô giảm. Những công việc này sẽ mở rộng cho việc tái chế sử dụng, đòi hỏi nhiều lao động chất lượng cao; việc làm trong lĩnh vực hậu cần thông qua việc thu hồi sản phẩm của địa phương; trong các DN vừa và nhỏ thông qua các mô hình kinh doanh mới.
Tăng cường sự đổi mới: Việc chuyền đôi từ nền KTTT sang KTTH đòi hỏi phải có các nghiên cứu sáng tạo dựa trên một lối tư duy mới.