Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng đang tạo ra áp lực lớn đối với cảnh quan môi trường tại các đô thị đang phát triển. Thành phố Sông Công là trung tâm kinh tế, văn hóa và công nghiệp phía Nam của tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích tự nhiên đạt 9.837,07 ha và quy mô dân số trên 109.409 người. Mặc dù đóng vai trò là cửa ngõ giao thương quan trọng, hiện trạng đất cây xanh và quảng trường của thành phố mới chỉ chiếm 8,47 ha, tương đương 0,09% tổng diện tích đất tự nhiên. Tỷ lệ này còn khoảng cách rất xa so với Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 9257:2012 quy định diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng cho đô thị loại II phải đạt từ 10 đến 12 m²/người.

Thực tế phát triển hạ tầng giao thông tại Sông Công ghi nhận tình trạng cây xanh đường phố phân bố không đồng đều, nhiều loài cây tự phát gây ảnh hưởng đến kết cấu vỉa hè và hạ tầng ngầm. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng cây xanh bóng mát trên 07 tuyến đường nội thị trọng điểm, đồng thời phân tích công tác quản lý nhà nước về mảng xanh đô thị trong giai đoạn 2021-2022. Mục tiêu cụ thể là lượng hóa thành phần loài, phân loại chất lượng sinh trưởng và xác định những bất cập trong quản lý. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn giúp chính quyền địa phương tái cơ cấu hệ thống cây bóng mát, khai thác tối đa lợi ích sinh thái như hạ nhiệt độ không khí từ 4 đến 5 độ C dưới tán lá, giảm thiểu trên 60% khói bụi độc hại, qua đó hiện thực hóa mục tiêu đưa thành phố Sông Công đạt tiêu chí đô thị loại I bền vững vào năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng ba khung lý thuyết nền tảng trong quản lý tài nguyên và môi trường đô thị:

Thứ nhất, Lý thuyết Hệ thống Xã hội - Sinh thái (SES - Social-Ecological Systems) xem mảng xanh đô thị là một hệ thống phức hợp liên kết chặt chẽ giữa hệ thống tài nguyên, đơn vị tài nguyên, người sử dụng và cơ chế quản trị. Cây xanh đường phố không chỉ là thực thể sinh học mà còn tương tác trực tiếp với các tiện ích hạ tầng và cộng đồng dân cư.

Thứ hai, Lý thuyết Nguồn tài nguyên dùng chung (CPRs) của Garrett Hardin (1968) khẳng định cây xanh công cộng mang lại lợi ích ngoại ứng rộng lớn cho toàn xã hội. Một héc-ta cây xanh tán rộng có khả năng hấp thụ khoảng 1 tấn khí CO2 và thải ra 730 kg khí O2 mỗi ngày. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này luôn chịu sự cạnh tranh không gian gay gắt từ các hoạt động xây dựng và mở rộng vỉa hè.

Thứ ba, Khái niệm Lâm nghiệp đô thị (Urban Forestry) do Erik Jorgensen khởi xướng từ thập niên 1960, định hướng việc lập quy hoạch, chăm sóc và bảo tồn đa tầng tán cây xanh theo hướng bền vững. Nghiên cứu cũng căn cứ vào khung pháp lý hiện hành gồm Nghị định 64/2010/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định 38/2021/QĐ-UBND tỉnh Thái Nguyên để phân loại cây đô thị theo 3 nhóm kích thước và 3 danh mục quản lý: cây khuyến khích trồng (33 loài), cây hạn chế (23 loài) và cây cấm trồng (16 loài).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiếp cận đa chiều thông qua sự kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp và khảo sát thực địa chuyên sâu:

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả thực hiện điều tra tổng kiểm kê trên toàn bộ 07 tuyến đường trục chính thuộc khu vực nội thị với tổng số 2.768 cây bóng mát. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ theo tuyến khảo sát (bao gồm Cách Mạng Tháng 8, Thống Nhất, Trần Phú, Thắng Lợi, Cách Mạng Tháng 10, 3-2 và Trần Hưng Đạo) đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho không gian xanh giao thông của toàn đô thị.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Phòng Quản lý Đô thị, Ban Quản lý Dự án và Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Sông Công. Dữ liệu sơ cấp được ghi nhận qua phỏng vấn chuyên gia và khảo sát trắc lượng hình thái thực tế từng cá thể cây.

Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân loại cây theo 4 cấp chất lượng (tốt, trung bình, xấu, rất xấu) dựa trên 4 tiêu chí cốt lõi: độ che phủ tán lá, hình thái thân, mức độ sâu bệnh và tác động của hệ rễ nổi đến vỉa hè. Toàn bộ dữ liệu được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm chuyên dụng; phương pháp này cho phép nhận diện chính xác tỷ lệ rủi ro gãy đổ và xung đột hạ tầng để tối ưu hóa chi phí duy tu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng số cây bóng mát ghi nhận trên 07 tuyến đường nội thị là 2.768 cây, phân bố theo các nhóm kích thước và tuyến đường với các đặc điểm nổi bật sau:

Cơ cấu phân tầng kích thước mất cân đối nghiêm trọng: Nhóm cây loại I (chiều cao dưới 6m, đường kính gốc dưới 20cm) chiếm ưu thế áp đảo với 2.531 cây, tương đương 91,44% tổng số cây khảo sát. Nhóm cây loại II (chiều cao từ 6 đến 12m) chỉ có 223 cây, chiếm 8,06%. Trong khi đó, nhóm cây cổ thụ loại III (chiều cao trên 12m, đường kính trên 50cm) chỉ có 14 cây, chiếm tỷ lệ rất thấp 0,51%, chỉ xuất hiện tại đường Thắng Lợi (11 cây) và đường 3-2 (3 cây).

Mật độ phân bổ chênh lệch lớn giữa các trục giao thông: Tuyến đường Trần Hưng Đạo có số lượng cây bóng mát lớn nhất với 870 cây (816 cây loại I và 54 cây loại II). Tuyến Cách Mạng Tháng 8 xếp thứ hai với 643 cây, tiếp theo là Cách Mạng Tháng 10 với 479 cây. Ngược lại, các tuyến đường như 3-2 chỉ có 110 cây và đường Trần Phú chỉ có 103 cây.

Đa dạng thành phần loài nhưng còn mang tính tự phát: Tuyến đường Cách Mạng Tháng 8 có độ đa dạng cao nhất với 18 loài thực vật, trong đó 4 loài chiếm tỷ trọng lớn nhất gồm Hoa sữa (128 cây, chiếm 19,9%), Bằng lăng (126 cây, chiếm 19,6%), Sao đen (102 cây, chiếm 15,9%) và Sấu (102 cây, chiếm 15,9%). Tuyến đường Thống Nhất có cấu trúc đồng nhất hơn với 227 cây thuộc 8 loài, chủ lực là Vàng anh (103 cây, chiếm 45,4%) và Sấu (99 cây, chiếm 43,6%). Tuyến đường Thắng Lợi có 336 cây thuộc 15 loài, với Hoa sữa chiếm 28,3% (95 cây) và Xà cừ chiếm 8,0% (27 cây).

Tồn tại nhiều loài cây không an toàn: Trên các tuyến phố cũ vẫn còn nhiều cá thể Xà cừ kích thước lớn có hiện tượng rễ nổi phá vỡ vỉa hè, cùng các loài cây do người dân tự trồng như Bàng (10 cây ở CMT8), Trứng cá, Đa, Si có cành giòn, dễ gãy đổ trong mùa mưa bão.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ cây loại I chiếm tới hơn 91% phản ánh sự tích cực của chính quyền trong việc đẩy mạnh trồng mới cây xanh trong giai đoạn đô thị hóa gần đây. Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy hệ thống cây xanh chưa đạt đến độ che phủ ổn định, khả năng cung cấp bóng mát và điều hòa vi khí hậu còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc quy hoạch trước đây thiếu đồng bộ; các dự án cải tạo vỉa hè, hạ ngầm hệ thống cấp thoát nước và đường dây điện thường làm tổn thương bộ rễ, khiến cây sinh trưởng chậm hoặc bị thay thế liên tục.

Dữ liệu điều tra cây xanh trên 07 tuyến đường có thể được trình bày một cách trực quan thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu 3 nhóm kích thước cây theo từng tuyến, kết hợp biểu đồ tròn phân tích tỷ lệ phần trăm các loài chủ đạo trên các trục đường huyết mạch như CMT8 hay Thắng Lợi. Ngoài ra, việc thiết lập bảng đối chiếu giữa diện tích cây xanh hiện trạng (8,47 ha) với chỉ tiêu 10 - 12 m²/người của TCVN 9257:2012 sẽ làm nổi bật khoảng trống hạ tầng xanh mà thành phố cần bù đắp. So sánh với các nghiên cứu tại Thành phố Thái Nguyên hay Thành phố Bắc Ninh, tình trạng trồng cây tự phát và cơ cấu loài chưa hợp lý là thách thức chung của nhiều đô thị loại II và loại III tại khu vực trung du phía Bắc.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện không gian xanh đô thị bền vững cho thành phố Sông Công, bốn nhóm giải pháp chiến lược cần được triển khai đồng bộ:

Mở rộng quỹ đất và nâng cao chỉ tiêu đất cây xanh: Khẩn trương điều chỉnh quy hoạch chi tiết các phân khu đô thị mới, đảm bảo tỷ lệ đất cây xanh đạt tối thiểu 10 m²/người theo tiêu chuẩn TCVN 9257:2012. Quy hoạch bổ sung từ 15 đến 20 ha đất công viên, vườn hoa tại khu vực nội thị đến năm 2025. Chủ thể thực hiện: UBND Thành phố Sông Công chủ trì, phối hợp với Phòng Quản lý Đô thị và các đơn vị tư vấn quy hoạch.

Chuẩn hóa cơ cấu loài cây trồng đường phố: Rà soát, lập kế hoạch đốn hạ và thay thế 100% các loài cây thuộc danh mục cấm hoặc hạn chế (như Bàng ta, Trứng cá, Xà cừ già cỗi, Hoa sữa mật độ quá dày) bằng 33 loài thuộc danh mục khuyến khích theo Quyết định 38/2021/QĐ-UBND tỉnh Thái Nguyên (như Sao đen, Sấu, Vàng anh, Bằng lăng tím). Phấn đấu đến năm 2026 đạt 95% cây đường phố đáp ứng chuẩn an toàn đô thị. Chủ thể thực hiện: Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Sông Công.

Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý: Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu GIS số hóa toàn bộ 2.768 cây xanh trên địa bàn. Gắn mã định danh QR cho từng cá thể cây bóng mát loại II và loại III để giám sát lịch sử cắt tỉa, theo dõi sâu bệnh và cảnh báo rủi ro gãy đổ trước mùa mưa bão hàng năm (hoàn thành hệ thống trong giai đoạn 2024-2025). Chủ thể thực hiện: Phòng Quản lý Đô thị chủ trì thực hiện.

Tăng cường xã hội hóa và chế tài bảo vệ cây xanh: Ban hành chính sách ưu đãi kêu gọi các doanh nghiệp tại 2 Khu công nghiệp Sông Công I và II (quy mô 470 ha) tài trợ kinh phí trồng và chăm sóc dải cây xanh cách ly. Tăng cường tuyên truyền cộng đồng và xử phạt nghiêm các hành vi tự ý chặt hạ, xâm hại cây xanh theo Nghị định 64/2010/NĐ-CP. Chủ thể thực hiện: UBND các phường, xã cùng các tổ chức đoàn thể địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng:

Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quy hoạch đô thị: Lãnh đạo UBND thành phố, Phòng Quản lý Đô thị Sông Công và các đô thị tương đương có thể sử dụng bộ dữ liệu khảo sát 2.768 cây để xây dựng đồ án quy hoạch cây xanh chuyên ngành và thẩm định các dự án phát triển hạ tầng.

Các đơn vị cung ứng dịch vụ công ích và công trình đô thị: Ban lãnh đạo và kỹ sư lâm sinh thuộc Công ty Môi trường Đô thị áp dụng các tiêu chí phân cấp chất lượng để xây dựng lịch trình cắt tỉa, duy tu và lập phương án thay thế 14 cây cổ thụ loại III có nguy cơ mất an toàn.

Chủ đầu tư các dự án bất động sản và khu công nghiệp: Các nhà đầu tư hạ tầng tại Khu công nghiệp Sông Công I, II và các dự án khu dân cư mới tham khảo danh mục loài khuyến khích để thiết kế hệ thống cảnh quan nội khu đồng bộ, đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật xây dựng.

Cán bộ nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành môi trường: Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý Tài nguyên, Khoa học Môi trường và Lâm nghiệp đô thị sử dụng tài liệu làm dẫn chứng thực tế cho phương pháp điều tra thực địa và mô hình hệ thống xã hội - sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

Hiện trạng hệ thống cây xanh bóng mát trên 07 tuyến đường nội thị thành phố Sông Công có đặc điểm gì nổi bật?

Khảo sát trên 2.768 cá thể cây cho thấy cơ cấu phát triển không đồng đều với 91,44% là cây loại I mới trồng (2.531 cây) và chỉ có 0,51% là cây loại III lâu năm (14 cây). Tuyến đường Trần Hưng Đạo tập trung nhiều cây nhất với 870 cây, trong khi tuyến đường Trần Phú có số lượng thấp nhất với 103 cây.

Tại sao cần hạn chế và thay thế dần cây Hoa sữa và Xà cừ trên các tuyến đường chính?

Trên trục đường Thắng Lợi có 95 cây Hoa sữa (chiếm 28,3%) và 27 cây Xà cừ. Mùi hoa sữa quá đậm đặc gây dị ứng và khó thở cho người dân xung quanh, trong khi cây Xà cừ kích thước lớn có hệ rễ nổi phá hủy vỉa hè và tiềm ẩn rủi ro gãy đổ nghiêm trọng khi xảy ra giông bão.

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định diện tích đất cây xanh cho đô thị như Sông Công ra sao?

Theo tiêu chuẩn TCVN 9257:2012, đô thị loại II cần đạt từ 10 đến 12 m² đất cây xanh công cộng trên mỗi người dân, trong đó đất cây xanh đường phố là 1,9 đến 2,2 m²/người. Hiện trạng đất cây xanh quảng trường của thành phố mới đạt 8,47 ha (0,09% đất tự nhiên), đòi hỏi phải mở rộng diện tích mạnh mẽ.

Phương pháp đánh giá và phân loại chất lượng cây xanh trong nghiên cứu được thực hiện như thế nào?

Nghiên cứu tiến hành điều tra thực địa toàn diện từng cây dựa trên 4 chỉ tiêu: độ đồng đều của tán, độ thẳng của thân, tình trạng sâu bệnh và mức độ phá vỡ vỉa hè của rễ. Cây được chia thành 4 cấp: tốt, trung bình, xấu và rất xấu để xác định giải pháp chăm sóc hoặc thay thế.

Chính quyền thành phố Sông Công nên ưu tiên lựa chọn những loài cây bóng mát nào cho các tuyến đường mới?

Căn cứ Quyết định 38/2021/QĐ-UBND tỉnh Thái Nguyên, thành phố nên ưu tiên trồng 33 loài thuộc danh mục khuyến khích như Sao đen, Sấu, Vàng anh, Bằng lăng tím, Lát hoa. Đây là những loài rễ cọc ăn sâu, tán gọn, thân thẳng, ít gãy đổ và thích nghi tốt với thổ nhưỡng địa phương.

Kết luận

Hệ thống hóa toàn bộ kết quả nghiên cứu của luận văn qua các luận điểm then chốt:

  • Khảo sát thực địa chi tiết 2.768 cây bóng mát trên 07 tuyến đường huyết mạch, chỉ ra sự mất cân đối khi cây loại I chiếm tới 91,44% và cây loại III chỉ đạt 0,51%.
  • Nhận diện sự phân bố loài không đồng đều, điển hình như đường Cách Mạng Tháng 8 có tới 18 loài trong khi đường Thống Nhất định hình rõ nét với Vàng anh (45,4%) và Sấu (43,6%).
  • Xác định điểm nghẽn về hạ tầng khi quỹ đất cây xanh quảng trường chỉ đạt 8,47 ha, chưa đáp ứng chuẩn 10 - 12 m²/người theo TCVN 9257:2012.
  • Đề xuất khung 4 giải pháp toàn diện bao gồm mở rộng quỹ đất, chuẩn hóa cơ cấu loài theo Quyết định 38/2021/QĐ-UBND, số hóa dữ liệu GIS và đẩy mạnh xã hội hóa.
  • Thiết lập lộ trình thực hiện đến năm 2025, định hướng hoàn thiện cảnh quan xanh phục vụ mục tiêu đưa thành phố Sông Công trở thành đô thị loại I.

Công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Duy Long là tài liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cao đối với công tác phát triển đô thị. Các cơ quan quản lý và đơn vị chuyên môn cần sớm ứng dụng các giải pháp số hóa và tái cơ cấu loài cây nhằm kiến tạo không gian sống trong lành, văn minh và an toàn cho hơn 109.000 cư dân thành phố Sông Công.