MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt. Với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, sử dụng đất là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững. Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người.
Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triển các ngành khác. Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu. Trong những năm qua nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội của đất nước. Nông nghiệp cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, phát triển tương đối toàn diện và đạt được những thành tựu quan trọng.
Sản xuất nông nghiệp không những đảm bảo an toàn lương thực quốc gia mà còn mang lại nguồn thu cho nền kinh tế với việc tăng hàng hóa nông sản xuất khẩu. Theo báo cáo của Trung tâm tin học và thống kê Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tình hình xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm và thủy sản tháng 2/2013 của nước ta như sau: Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm và thuỷ sản tháng 2 ước đạt 1,5 tỷ USD đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm đạt xấp xỉ 3,6 tỷ USD, tăng 50,7% so với cùng kỳ. Trong đó: kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính tháng 2 ước đạt 816 triệu USD, 02 tháng đầu năm đạt 2 tỷ n 2 USD, tăng 57,5% so với cùng kỳ; thuỷ sản tháng 2 ước đạt 400 triệu USD, 02 tháng đầu năm đạt 835 triệu USD, tăng 54,4%; lâm sản tháng 2 ước đạt 222 triệu USD, 02 tháng đầu năm đạt 594 triệu USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ. Nhìn chung, cả khối lượng và giá trị xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng nông lâm thuỷ sản đều tăng khá, trong đó giá trị tăng nhanh hơn khối lượng.
Trong đó tăng trưởng của các mặt hàng chủ yếu: Khối lượng xuất khẩu gạo tháng 2 ước đạt 600 nghìn tấn, với giá trị 310 triệu USD. Lượng gạo xuất khẩu 2 tháng đạt 1,1 triệu tấn thu về 592 triệu USD tăng 55,6% về khối lượng nhưng giá trị chỉ tăng 44,5% so với năm 2010, cà phê khối lượng xuất khẩu tháng 2 ước đạt 80 nghìn tấn, giá trị đạt 155 triệu USD, đưa khối lượng 2 tháng lên 225 nghìn tấn và giá trị lên 438 triệu USD, tăng nhẹ (2,2%) về lượng và 40,4% về giá trị, cao su tháng 2 đạt 30 ngàn tấn, kim ngạch đạt 135 triệu USD. Như vậy khối lượng xuất khẩu cao su 2 tháng là 106 ngàn tấn và giá trị là 467 triệu USD, tăng 38,2% về lượng nhưng giá trị gấp 2,4 lần,: Ước tháng 2 xuất khẩu đạt 11 ngàn tấn, với giá trị 16 triệu USD, đưa tổng khối lượng xuất khẩu 2 tháng năm 2011 lên 22 ngàn tấn và giá trị lên 32 triệu USD, so với cùng kỳ về lượng tăng 27,4%, kim ngạch tăng 34,3%. Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là một hướng đi đúng đắn trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp hiện nay của nước ta, đồng thời đó cũng là điều kiện để thực hiện tiến trình hội nhập với kinh tế thế giới.
Phường Tân Thành nằm ở cửa ngõ Đông Nam thành phố cách trung tâm hành chính thành phố khoảng 8km. Phía Bắc giáp phường Hương Sơn, phường Trung Thành, phía Đông và phía Nam giáp xã Lương Sơn, phía Tây giáp xã Tân Quang – Thị xã Sông Công.[1] Ý nghĩa của vị trí địa lí đối với phát triển kinh tế xã hội: Trên địa bàn có tuyến đường sắt Hà Nội – Thái Nguyên cùng với nhiều tuyến đường giao n 3 thông huyết mạch như: quốc lộ 37, quốc lộ 3 nối thành phố Thái Nguyên với Hà Nội và nhiều trung tâm kinh tế – chính trị khác của vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng…đây là điều kiện thuận lợi để phường trao đổi, giao lưu văn hóa, chính trị và phát triển kinh tế.[2] - Tổng diện tích tự nhiên tính đến 01/01/2014 của phường là 238,49 ha, dân số là 4.[1] - Trong những năm qua cơ cấu kinh tế của phường chuyển dịch theo hướng tiến bộ phù hợp với sự phát triển chung của cả thành phố. Giảm tỷ trọng phát triển các nghành nông – lâm nghiệp và tăng tỷ trọng các nghành thương mại – dịch vụ, tiểu thủ – công nghiệp. Năm 2013 sản xuất lương thực có hạt đạt 294,8 tấn tăng 14,2% so với kế hoạch; giá trị sản xuất của nghành công nghiệp đạt 13,5 tỷ đồng, đến năm 2014 phấn đấu đạt 16 tỷ đồng.[2] Tuy nhiên, cũng như các phường, xã nông nghiệp khác phường Tân Thành đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề như: sản xuất nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, chất lượng nông sản thấp, khả năng hợp tác liên doanh cạnh tranh còn yếu, sự chuyển dịch cơ cấu còn chậm.
Trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn về kinh tế, đồng thời tạo đà cho phát triển nông nghệp bền vững. Đó là mục tiêu nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Đánh giá được thực trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường. - Đánh giá được hiệu quả một số loại hình sử dụng đất chính n 4 - Lựa chọn được các loại hình sử dụng đất có hiệu quả - Đưa ra các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả.
Yêu cầu của đề tài - Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên. - Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của phường Tân Thành. - Đề xuất các các loại hình sử dụng có hiệu quả, giải pháp để nâng cao hiệu quả các loại hình sử dụng đất đó. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức đã được học nghiên cứu trong nhà trường và những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin trong quá trình làm đề tài.Ý nghĩa trong thực tiễn Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng nhóm đất nông nghiệp từ đó đề xuất được những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển.Đất là lớp mặt tươi xốp của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng. Đất là lớp phủ thổ nhưỡng là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển. Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản.[11] Các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và qui hoạch Việt Nam cho rằng: “ Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”.
- Như vậy đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng, gồm: Khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn thảm thực vật với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người.[10] - Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.[1] n 6 - Đất sản xuất nông nghiệp là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp bao gồm: đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm. Sử dụng đất và những quan điểm sử dụng đất * Khái niệm sử dụng đất Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người và đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. * Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất * Yếu tố điều kiện tự nhiên: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, thủy văn, không khí… * Yếu tố về kinh tế - xã hội: chế độ xã hội, dân số, lao động, trình độ khoa học kỹ thuật, giao thông… 2. Cơ sở thực tiễn của đề tài Đất là tư liệu sản xuất cần thiết và không thể thiếu đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người.
Đối với nông nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất là điều kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới, xáo…) và công cụ lao động hay phương tiện lao động (Sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi…). Quá trình sản xuất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất. Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp. Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 – 5 tỷ ha.