Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái quát chung về đất đồi núi Như chúng ta đã biết, diện tích đất đồi núi nước ta chiếm gần 3/4 diện tích toàn quốc, khoảng 23,9 triệu ha, do vậy, sử dụng đất đồi núi sản xuất nông lâm nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế. Trong 9 vùng sinh thái của Việt Nam thì có 7 thuộc vùng đồi núi.
Tình hình sử dụng đất đồi núi Việt Nam có lịch sử rất lâu đời với tập quán xa xưa lạc hậu là du canh du cư, phá rừng đốt rẫy, trồng lúa nương, hoa màu ngắn ngày. Vì vậy diện tích đất bị thoái hoá tăng nhanh chóng (đến nay có khoảng nửa triệu ha đất xói mòn trơ sỏi đá), diện tích đất có độ che phủ rừng giảm rõ rệt từ 43% năm 1945 xuống còn 28% năm 1993. Mất rừng kéo theo sự thoái hoá đất (đất bị bạc màu hoá, xói mòn trơ sỏi đá), làm mất đi chức năng phục vụ sinh thái của rừng là điều hoà khí hậu và bảo vệ nguồn nước. Đã có lúc diện tích đất trống đồi núi trọc vùng đồi núi lên đến 13 triệu ha (Nguyễn Thế Đặng &cs (2003))[8].
Trong bảng phân loại đất Việt Nam theo FAO-UNESCO, các loại đất đồi núi được phân loại chủ yếu ở các nhóm đất thứ IX đến nhóm XVIII. Cơ sở phân loại đất vùng đồi núi Việt Nam dựa trên yếu tố chính là tầng chuẩn đoán đặc tính chuẩn đoán và vật liệu chản đoán trong phân loại đất của FAO-UNESCO. Ngoài ra còn tham khảo các yếu tố khác như đá mẹ, địa hình, độ sâu tầng đất. (Đặng Văn Minh &cs (2000))[12] Có thể nói phân loại đất vùng đồi núi Việt Nam rất đa dạng và phức tạp, tiêu tốn nhiều thời gian và công sức của các nhà khoa học đất.
Điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và á nhiệt đới vùng đồi núi, địa hình cao dốc, chia cắt mạnh và tình hình địa chất rất phức tạp là những nguyên nhân chủ yếu tạo ra rất nhiều loại đất với sự phân bố khá manh mún. Ở đây có các loại đất có tiềm năng sản xuất lớn như đất đỏ vàng, đất xám, đất đen, cũng như có không ít diện tích đất đồi núi cao, dốc, bất n 4 thuận cho sản xuất hoặc đã bị thoái hoá nghiêm trọng không còn khả năng khai thác như đất mùn alit trên núi cao, đất xám mùn trên núi, đất xói mòn trơ sỏi đá. Các nghiên cứu về đất và sử dụng đất đồi núi ở nước ta đã và đang được đặc biệt chú ý. Ngay từ những năm sau hoà bình, các nhà thổ nhưỡng Việt Nam đã cùng chuyên gia Liên Xô (cũ) V.
Fridland đã dày công điều tra, phân tích các loại đất vùng đồi núi, xác định các quá trình hình thành đất đặc trưng của vùng nhiệt đới nóng ẩm như quá trình Feralit, Lateritic, Alit, Magalit-Feralit. Về sử dụng đất đồi núi, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã phân cấp độ dầy tầng đất và độ dốc của các loại đất phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả và lâu bền. Từ những năm 60 các cơ quan nghiên cứu đất như Vụ Quản lý Ruộng đất, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá đã tập trung vào nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật chống xói mòn đất, bảo vệ đất dốc (Nguyễn Trọng Hà, 1962; Bùi Quang Toản, 1965; Bùi Ngạnh, Nguyễn Xuân Cát, 1970-1980; Chu Đình Hoàng,1976; Nguyễn Văn Tiễn, 1988; Thái Phiên với chương trình IBSRAM, 1990-1999; Nguyễn Thế Đặng, 1991 - 2000. Từ những năm của thập kỷ 80 và 90 đến nay, các chương trình nghiên cứu và sử dụng đất đồi núi tập trung vào các dự án đánh giá đất và xây dựng các mô hình sản xuất như hệ thống nông lâm kết hợp, hệ thống vườn ao chuồng rừng (VACR) và trang trại sản xuất rừng đồi, vườn đồi.
Các chương trình phát triển lâm nghiệp xã hội, xoá đói giảm nghèo, bảo về vùng đầu nguồn, xây dựng thôn bản mới, quy hoạch sử dụng đất có người dân cùng tham gia, xây dựng và cải thiện thị trường nông thôn, ngân hàng và tín dụng nông thôn. là những hoạt động hữu hiệu và vô cùng quan trọng góp phần bảo vệ đất và sử dụng đất đồi núi hợp lý nhất. Các quan điểm về quản lý đất đai Quản lý đất đai là một chủ trương lớn, có tầm chiến lược quan trọng của mỗi quốc gia. Quản lý đất đai là cơ sở để hình thành một nền kinh tế quan trọng, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm, tạo môi trường sống cho dân cư đồng thời còn đảm bảo cho việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đô thị và nông thôn theo đúng quy hoạch và pháp luật.
n 5 Vậy cần hiểu khái niệm đất là gì và quản lý đất đai là gì? Theo Lucreotit (triết gia La mã thế kỷ I TCN) “Đất là mẹ của muôn loài, không có cái gì không từ lòng mẹ Đất mà ra”. Theo thuyết Âm dương ngũ hành: là một trong 5 yếu tố tạo thành vũ trụ: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. Theo giả thuyết của Stephen Hawkin, cách đây 15 tỷ năm đã xảy ra “một vụ nổ lớn” - Big Bang hình thành thiên hà. Hệ Mặt trời cũng được hình thành bằng cách đó.
Trong Hệ mặt trời có sao Thủy, sao Kim, Trái đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên vương, sao Hải vương. Đất và đất đai: - Đất (soil): Lớp đất mặt của vỏ trái đất gọi là Thổ nhưỡng. Thổ nhưỡng phát sinh là do tác động lẫn nhau của khí trời (Khí quyển), nước (Thủy quyển), sinh vật (Sinh quyển) và đá mẹ (Thạch quyển) qua thời gian lâu dài. - Đất (land): khái niệm đất có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau [10]: + Đất như là không gian + Đất như là cộng đồng lãnh thổ + Đất như là vị trí địa lý + Đất như là nguồn vốn + Đất như là môi trường + Đất như là tài sản Luật Đất đai 2003 của Việt Nam quy định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặt biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Việc phân loại đất hiện nay ở Việt Nam theo 02 cách [10]: - Phân loại đất theo thổ nhưỡng: (theo Khoa học đất). Mục đích để xây dựng bản đồ thổ nhưỡng. Có 3 trường phái chủ yếu: + Phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh + Phân loại đất theo định lượng các tầng đất + Phân loại đất theo FAO – UNESCO - Phân loại đất theo mục đích sử dụng đất: n 6 + Căn cứ vào quỹ đất, mục đích sử dụng đất, chính sách thuế, các nước có bảng phân loại đất khác nhau: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng ( đất xây dựng cơ sở hạ tầng, đất khu công nghiệp, đất thương mại, du lịch, sinh thái, bảo tồn), đất đô thị, đất ven đô thị, đất an ninh quốc phòng, đất ở và hành chính nông thôn, đất chưa sử dụng, đất hoang… + Đối với Việt nam: từ 1/7/2004 theo quy định của Luật đất đai 2003, đất đai được chia thành 3 loại: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Quản lý đất đai: Quản lý đất đai (Land administration - địa chính): Theo định nghĩa của LHQ: Là quá trình lưu giữ và cập nhật những thông tin về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và những thông tin khác liên quan đến đất.
(Land administration guidelines- 1996)- chỉ dẫn về quản lý hành chính đất đai. Là quá trình đảm bảo theo luật pháp cho việc sử dụng, phát triển quỹ đất, khai thác lợi nhuận thu được từ đất (thông qua thuế, cho thuê, bán) và giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai. Đối tượng quản lý đất đai liên quan đến cả 2 đối tượng đất công và đất tư bao gồm các công việc: đo đạc đất đai, đăng ký đất đai, định giá đất đai, giám sát sử dụng, lưu giữ và cập nhật các thông tin đất đai, cung cấp các thông tin đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai. Quản lý đất đai (Land management): là quản lý tài nguyên đất, được xem xét trên cả phương diện môi trường và kinh tế.
Một số vấn đề về sử dụng đất theo quan điểm phát triển bền vững 1. Quan điểm về sử dụng đất lâu bền và phát triển bền vững Từ những năm 1980, Liên minh Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (UICN) đã đề xuất khái niệm phát triển bền vững. Đến năm 1987, khái niệm này đã được Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) tiếp thu, triển khai và định nghĩa trong bản tường trình mang tựa đề "Tương lai của chúng ta" như sau: "Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau" (Đặng Văn Minh &cs (2000))[12]. n 7 Đến cuối năm 1987, Liên Hiệp Quốc đã chuẩn bị cho 2 hội nghị quan trọng về vấn đề PTBV.
Hội nghị thứ nhất diễn ra năm 1992 tại Rio de Janeiro gọi là Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển đã chính thức hoá sự đồng lòng của các nước hội viên Liên Hiệp Quốc về một chương trình nghị sự PTBV gọi là Agenda 21 (Action Plan for Sustainable Development for the 21st Century) (Nguyễn Quang Mỹ (2005))[14]. Hội nghị thứ hai diễn ra năm 2002 tại Johannesburg, Nam Phi với sự tham gia của 196 Quốc gia “Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững”. Hội nghị Johannesburg đã xác định phải xúc tiến và thực hiện Agenda 21 và đề ra các mục tiêu cho thiên niên kỷ mới. PTBV đã trở thành tuyên ngôn và chiến lược hành động chung của nhiều Quốc gia trên thế giới.
Từ năm 1992 đến năm 2004 đã có 113 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và 6.416 Chương trình nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện chương trình này. Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia. đều đã xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững.