ĐẶT VẤN ĐỀ Nậm Pồ là một huyện miền núi, biên giới, nằm về phía tây bắc của tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 140 km, có diện tích tự nhiên là 149.559,12 ha, có đƣờng biên giới quốc gia dài 119,7 km, có 2 cửa khẩu phụ. Huyện đƣợc thành lập theo Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 25/8/2012 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện thuộc tỉnh Điện Biên. Nậm Pồ có địa hình địa hình đồi núi cao chạy dài theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, có xu hƣớng thấp dần từ bắc xuống nam và nghiêng dần từ tây sang đông, độ cao từ 200m đến 1800m. Xen kẽ giữa các dãy núi có các dạng địa hình thung lũng, sông suối, thềm bãi bồi, mô sụt võng,.
phân bố rộng khắp trên địa bàn nhƣng diện tích nhỏ, hẹp có điều kiện giữ nƣớc và tƣới nƣớc trên hầu hết diện tích đất đã đƣợc khai thác trồng lúa và hoa màu. Là một huyện có tài nguyên rừng và thảm thực vật khá phong phú, đa dạng chủng loại cây đƣợc phân bố đều trên địa bàn 15/15 xã, hiện còn tồn tại một số loài cây quý hiếm nằm trong sách đỏ nhƣ: Pơ mu, sa Mu và nhiều loại quý hiếm có giá trị kinh tế cao cũng nhƣ trong nghiên cứu khoa học gồm: giổi, sấu, trám, muồng hoa vàng nhƣng hiện nay số lƣợng không đáng kể. Các cây rừng nhân tạo chủ yếu là: Keo, tre. Nậm Pồ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa khô (mùa đông) và mùa mƣa (mùa hè).
Mùa khô từ tháng 11 năm trƣớc đến tháng 4 năm sau, có gió mùa đông lạnh khô, chịu ảnh hƣởng của gió Tây khô nóng (gió Lào); ít mƣa, chịu nhiều sƣơng muối và rét hại gây bất lợi cho đời sống và sản xuất nông nghiệp. Nậm Pồ có tài nguyên rừng rất lớn, huyện hiện có khoảng 60.000 ha đất có rừng tự nhiên chiếm khoảng 40% tổng diện tích tự nhiên của huyện.Đất lâm nghiệp chƣa có rừng (theo quy hoạch 3 loại rừng) trên địa bàn huyện có khoảng 52.000 ha, tập trung chủ yếu ở các xã Si Pa Phìn khoảng 8.000 ha, Phìn Hồ khoảng 5.000 ha, Pa Tần khoảng 5.000 ha, Vàng Đán khoảng 3. Do có điều kiện địa lý phức tạp, tài nguyên rừng phong phú nên các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ cũng rất đa dạng và đƣợc ngƣời dân tại khu vực thị trấn kinh doanh rất nhiều.Từ những năm qua, ngoài việc khai thác và sử dụng gỗ thì LSNG có vai trò 1 rất quan trọng đối với ngƣời dân địa phƣơng, LSNG cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nguyên vật liệu xây dựng, làm hàng thủ công…Phục vụ đời sống hàng ngày và để bán tạo nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ gia đình. Tại đây chƣa có đề tài nghiên cứu nào về tài nguyên LSNG vì vậy triển khai đề tài “ Đánh gía thực trạng khai thác, tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ khu vực trung tâm huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên” sẽ góp phần bƣớc đầu đánh giá thực trạng về thực vật cho LSNG của khu vực thị trấn huyện Nậm Pồ từ đó đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả và khai thác bề vững nguồn lâm sản ngoài gỗ tại đây.
2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về LSNG. Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG: LSNG là tất cả các sản phẩm từ sinh vật không kể gỗ, cũng nhƣ các dịch vụ có đƣợc từ rừng và đất rừng ( Dịch vụ trong định nghĩa này là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhƣạ và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến các sản vật này ( FAO, 1995). Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, đƣợc khai thác từ rừng để phục vụ con ngƣời.
Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô nhƣ tre, nứa, song, mây và sợi. Dựa vào phân nhóm giá trị sử dụng LSNG theo giáo trình LSNG của trƣờng Đại học Lâm nghiệp, LSNG [5] đƣợc phân chia theo nhóm giá trị sử dụng nhƣ sau: - Nhóm LSNG dùng làm nguyên liệu công nghiệp. - Nhóm LSNG dùng làm vật liệu thủ công mỹ nghệ. - Nhóm LSNG dùng làm lƣơng thực, thực phẩm và chăn nuôi.
- Nhóm LSNG dùng làm dƣợc liệu. - Nhóm LSNG dùng làm cảnh. Theo quan điểm của Đề án bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 2366/BNN-LN, ngày 17/8/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT phân chia LSNG thành 6 nhóm (cho sợi, thực phẩm, làm thuốc, làm cảnh, tinh dầu và các loại khác). LSNG đa dạng về giá trị sử dụng do đó nó có vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội: + LSNG có tầm quan trọng về kinh tế và xã hội.
Chúng có giá trị lớn và có tạo ra nhiều công ăn việc làm. + LSNG đóng góp vào sự đa dạng sinh học của rừng. Chúng là nguồn gen hoang dã quý, có thể bảo tồn phục vụ gây trồng công nghiệp. 3 + LSNG hiện bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng bởi ảnh hƣởng của sự tăng dân số, mở rộng đất canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc không kiểm soát, khai thác gỗ, thu hái chất đốt.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu LSNG trên thế giới. Từ những năm 1989 trở lại đây có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh đƣợc giá trị của thực vật cho LSNG cũng nhƣ đã chỉ ra vai trò to lớn của nó đối với sự nghiệp phát triển bền vững. Nghiên cứu của Mendelson (1992) đã chỉ rõ vai trò của thực vật LSNG, theo ông quan trọng cho bảo tồn bới việc khai thác chúng có thể luôn đƣợc thực hiện với sự tổn hại ít nhất tới rừng. thực vật LSNG quan trọng trong đời sống bới nó có thể cung cấp nhiều dạng sản phẩm nhƣ thực vật ăn đƣợc, nhựa, thuốc, Tanin, sợi, cây làm thuốc… và ngoài sử dụng trực tiếp ngƣời thu hái có thể đem bán, trao đổi (một trong các yếu tố không thể thiếu của xã hội).
LSNG đƣợc hiểu theo nhiều các dựa vào định nghĩa của các nhà khoa học đƣa ra vào các thời điểm khác nhau: De.Beer ( 1989) đã quan niệm LSNG là “ tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ mà chúng đƣợc khai thác từ rừng tự nhuên để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của loài ngƣời.LSNG bao gồm thực phẩm , thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, chất đốt và các nguyên liệu thô, song, mây, nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho sợi. Theo Wecken (1991): “ LSNG bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật ( trừ gỗ tròn công nghiệp), gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy, có thể lấy ra từ HST tự nhiên, rừng trồng đƣợc dùng trong gia đình, mua bán hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa xã hội, việc sử dụng HST cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm thuộc về lĩnh vực của rừng. Theo FAO (1990): “ LSNG là các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, ngoại trừ gỗ lớn có ở rừng và các cây bên ngoài rừng”. Những nghiên cứu về LSNG đã cho thấy tiềm năng to lớn của nó ở các nƣớc nhiệt đới.
Do vậy, kinh doanh thực vật LSNG đang mở ra triển vọng phát triển rừng rất bền vững, nó có thể kết hợp với kinh doanh rừng gỗ làm thành mô hình kinh doanh rừng gỗ làm thành mô hình kinh doanh có hiệu quả về mọi mặt. Tổng quan về tình hình khai thác và tiêu thụ LSNG ở Việt Nam. LSNG từ xƣa đến nay vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của gia đinh dân cƣ vùng trung du cà miền núi phía bắc nƣớc ta. Gần đây nhờ việc buôn bán qua biên giới những sản phẩm này đƣợc đánh giá cao hơn.
Cũng nhƣ các nƣớc trong vùng nhiệt đới, Việt Nam có thực vật LSNG rất đa dạng và phong phú. Đó là điều kiện thuận lợi cho nhiều ngƣời nghiên cứu tìm tòi cũng nhƣ áp dụng các kết quả đã đƣợc nghiên cứu và thử nghiệm trên thế giới để phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên này. Việt Nam là một trong những những nƣớc có tài nguyên đa dạng sinh học cao, đây là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển LSNG. Thị trƣờng LSNG hiện nay phát triển nhanh.
Mạng lƣới thu mua LSNG mới đã đƣợc hình thành để đáp ứng đƣợc nhu cầu của sản xuất và lƣu thông phân phối; các doanh nghiệp Nhà nƣớc thu hẹp dần phạm vi hoạt động, nhƣờng chỗ cho các thành phần kinh tế khác. Trong giai đoạn từ 1990 đến 1995, sản xuất LSNG hầu nhƣ bị thả nổi. Do mất thị trƣờng Đông Âu, xuất khẩu LSNG chủ yếu theo đƣờng tiểu ngạch và phi mậu dịch ở biên giới, số liệu thống kê không đầy đủ. Từ khi khai thông đƣợc lối vào các thị trƣờng khu vực và thế giới, thị trƣờng LSNG đƣợc phục hồi và sản xuất phát triển, nhất là chế biến tre trúc, song mây.
Sản phẩm chế biến từ tre và song mây có ý nghĩa kinh tế đáng chú ý. Song mây là nguồn tài nguyên quan trọng sau gỗ và tre nứa. Hàng năm Việt Nam xuất khoảng 2 triệu sản phẩm đan lát, 0,6 triệu m2 mặt mây đan và nhiều mặt hàng khác chế biến từ song mây (Vũ Văn Dũng và Lê Huy Cƣờng, 1996). Riêng mặt hàng mây đã thu hút từ 20 – 40 vạn lao động từ khai thác đến khâu lƣu thông và chế biến, đem lại nguồn lợi kinh tế bình quân khoảng 30 triệu USD/năm.
Sản xuất các sản phẩm khác nhƣ quế, hồi, nhựa thông cũng đƣợc đẩy mạnh. Theo Hoàng Hòe (1998), nguồn tài nguyên LSNG ở nƣớc ta rất lớn, có nhiều loài có giá trị cao: số loài cây làm thuốc chiếm tới 22% tổng số loài thực vật ở Việt Nam, có khoảng trên 500 loài thực vật cho tinh dầu (chiếm 7,14% tổng số loài), khoảng trên 600 loài cho tanin và rất nhiều loài khác cho dầu nhờn, dầu béo, cây cảnh. Bên cạnh đó, song mây, tre, nứa (hiện nay tổng diện tích tre nứa của nƣớc ta là 5 1,492 triệu ha, với khoảng trên 4 tỷ cây) không chỉ là nguyên liệu xây dựng truyền thống quan trọng của nhân dân ta từ xƣa tới nay mà còn là nguồn nguyên liệu rất quan trọng cho nghề thủ công mỹ nghệ, tạo ra những sản phẩm vô cùng đẹp mắt, có khả năng xuất khẩu mang lại giá trị cao.