ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xƣa, mặc dù con ngƣời gắn với Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) chặt chẽ và thƣờng xuyên nhƣng do giá trị kinh tế của các loài này không lớn khi so với sản phẩm chính của rừng nên chúng không đƣợc chú ý nhiều trong phần lớn ngƣời dân địa phƣơng. Có chăng chỉ là các nguyên liệu, dƣợc liệu đặc biệt và thú quý mới đƣợc quan tâm. Nhƣng hiện nay, do số lƣợng và chất lƣợng rừng đang bị suy giảm mạnh, hơn nữa chính sách đóng cửa rừng của Nhà nƣớc đã làm cho nguồn cung cấp gỗ ngày càng khan hiếm, điều này đã tác động mạnh đến thu nhập của ngƣời dân sống gần rừng, phụ thuộc vào rừng. Lúc này, hoạt động khai thác rừng của ngƣời dân địa phƣơng lại tập trung vào các loại LSNG và ngƣời ta mới thấy đƣợc giá trị nhiều mặt của LSNG, mới có những nghiên cứu nghiêm túc trong quản lý nguồn tài nguyên này.
Và nguyên nhân nữa là ngƣời ta cho rằng giá trị thƣơng mại của LSNG nhỏ nếu với quy mô cộng đồng hoặc gia đình, nó chỉ xuất hiện khiêm tốn ở các chợ nông thôn. Vì vậy chƣa có một tiêu chuẩn nào để đánh giá cho LSNG và giá cả của chúng cũng biến động theo từng vùng và từng thời điểm, những ngƣời khai thác và chế biến các sản phẩm từ LSNG chƣa có đủ thông tin về thị trƣờng và giá cả. Trong những năm gần đây, trƣớc xu thế ngày càng giảm về số lƣợng của các loài động, thực vật quý hiếm, các quốc gia và các tổ cức phi chính phủ đã và đang rất nỗ lực hành động để bảo tồn các nguồn gen quý hiếm của trái đất. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có điều kiện tự nhiên thuận lợi nên tài nguyên rừng rất phong phú, đa dạng.
Tài nguyên rừng đã gắn bó với đời sống của nhân dân ta, đặc biệt đối với đồng bào các dân tộc ở vùng núi và trung du. Rừng không chỉ có giá trị to lớn trong việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái, phòng hộ, an ninh quốc phòng. mà rừng còn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp gỗ và LSNG. Hiện nay, ngƣời ta quan niệm Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm không phải gỗ có nguồn gốc sinh vật đƣợc khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng, và có nhiều giá trị sử dụng.
Nhƣ vậy, LSNG là một bộ phận chức năng quan trọng của hệ sinh thái rừng. Lâm sản ngoài gỗ không những góp phần quan 1 trọng về kinh tế xã hội mà còn có giá trị to lớn đối với sự giàu có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng. Đã từ lâu, LSNG đƣợc sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nhƣ làm dƣợc liệu, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm,., do vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết về đặc tính và công dụng của các loài LSNG đã hạn chế nhiều giá trị kinh tế của chúng.
Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số loài LSNG đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng. Nhƣ vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiểu biết về LSNG để quản lý, khai thác, sử dụng, chế biến, tiêu thụ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quí giá này. Xã Hồng Quang là xã nằm phía Tây của huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, đời sống văn hóa, y tế, giáo dục đang đƣợc quan tâm và phát triển. Hầu hết ở các thôn đều là đồng bào các dân tộc cuộc sống của họ gặp rất nhiều khó khăn chủ yếu họ dựa vào tài nguyên rừng, nhất là nguồn LSNG.
Tại đây có rất nhiều các loại LSNG có giá trị nhiều mặt và chúng đang đƣợc thu hái để phục vụ cho đời sống gia đình và thƣơng mại. Việc khai thác LSNG chủ yếu từ tự nhiên, mức độ khai thác sử dụng lớn dẫn đến nguồn tài nguyên này đang bị cạn kiệt hoặc còn với số lƣợng rất ít. Vì thế, cần có sự trang bị kiến thức để đƣa ra những biện pháp hữu hiệu cần thiết để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên LSNG. Để bảo vệ và phát triển bền vững LSNG cho sinh kế của cộng đồng địa phƣơng, việc tìm hiểu thực trạng, sử dụng các loại lâm sản này là việc cần thiết.
Vì vậy tôi thực hiện đề tài: “ Đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng và đề xuất giải pháp phát triển LSNG của ngƣời dân xã Hồng Quang – huyện Lâm Bình – tỉnh Tuyên Quang ”. 2 Phần 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một vài đặc điểm về thực vật cho LSNG Lâm sản ngoài gỗ ( Non Timber Forest Products ) là tất cả các vật liệu sinh học ngoài gỗ, đƣợc khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ cho mục đích của con ngƣời. Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi (W.
Lâm sản ngoài gỗ là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật không kể gỗ, cũng nhƣ những dịch vụ có đƣợc từ rừng và đất. Dịch vụ trong định nghĩa này là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gôm nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến các sản phẩm này (FAO, 1995) [14]. Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, đƣợc khai thác từ rừng để phục vụ con ngƣời. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh đầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã ( động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng ), củi và các nguyên liệu thô nhƣ tre, nứa, mây, song, gỗ nhỏ và sợi ( JennH.
Có rất nhiều định nghĩa về LSNG đã đƣợc đƣa ra nhƣng tóm lại các định nghĩa đều nhận định LSNG là các sản phẩm có nguồn gốc từ rừng, không kể gỗ, cũng nhƣ dịch vụ từ rừng mà ngƣời dân có thể sử dụng đƣợc hay đem các sản phẩm từ rừng ra để trao đổi hàng hóa mua bán mang lại thu nhập kinh tế cho ngƣời dân. LSNG thƣờng đƣợc phân chia theo nhóm giá trị sử dụng nhƣ sau: - Nhóm LSNG dùng làm nguyên liệu công nghiệp. - Nhóm LSNG dùng làm vật liệu thủ công mỹ nghệ. - Nhóm LSNG dùng làm lƣơng thực, thực phẩm và chăn nuôi.
- Nhóm LSNG dùng làm dƣợc liệu. - Nhóm LSNG dùng làm cảnh. LSNG đa dạng về giá trị sử dụng do đó nó có vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội: 3 + LSNG có tầm quan trọng về kinh tế và xã hội. Chúng có giá trị lớn và có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm.
+ LSNG có giá trị đối với sự giàu có của hệ sinh thái rừng. Chúng đóng góp vào sự đa dạng sinh học của rừng. Chúng là nguồn gen hoang dã quý, có thể bảo tồn phục vụ gây trồng công nghiệp. + LSNG hiện bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng bởi ảnh hƣởng của sự ra tăng dân số, mở rộng canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc không kiểm soát, khai thác gỗ, thu hái chất đốt.
Những nghiên cứu về LSNG trên thế giới Từ những năm 1980 trở lại đây có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh đƣợc giá trị thực của thực vật cho LSNG, cũng nhƣ đã chỉ rõ vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển rừng bền vững. Đầu tiên phải kể đến những phát hiện về khả năng đặc biệt của thực vật LSNG nhƣ phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm, năng suất kinh tế cao, ổn định, có thể kinh doanh liên tục và việc khai thác chúng thƣờng ít bị phá hủy hệ sinh thái. Vì vậy, bằng cách duy trì tính nguyên vẹn của rừng tự nhiên, việc bảo tồn có khai thác có thể nuôi dƣỡng đƣợc tính đa dạng sinh học cơ bản và bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Bảo tồn có khai thác sẽ cung cấp những sản phẩm cần thiết cho một bộ phận của xã hội một cách bền vững ( Mendelsohn, 1992 ).
Nghiên cứu của Mendelsohn (1992) đã chỉ rõ vai trò của thực vật LSNG, theo ông: thực vật LSNG quan trọng cho bảo tồn bởi việc khai thác chúng có thể luôn đƣợc thực hiện với sự tổn hại ít nhất đến rừng. Thực vật LSNG quan trọng cho tính bền vững vì trong quá trình khai thác chúng vẫn đảm bảo cho rừng ở trạng thái tự nhiên. Thực vật LSNG quan trọng trong đời sống bởi nó có thể cung cấp nhiều dạng sản phẩm nhƣ thực vật ăn đƣợc, nhựa, thuốc nhuộm, tanin, sợi, cây làm thuốc,.và ngoài sử dụng trực tiếp ngƣời thu hái có thể đem bán, trao đổi (một trong các yếu tố không thể thiếu của xã hội). Do đó, ông khẳng định rừng nhƣ là một nhà máy quan trọng của xã hội và thực vật cho LSNG là một trong những sản phẩm quan trọng của nhà máy này [13].
Thấy đƣợc vai trò của LSNG đối với các nƣớc đang phát triển nhất là các nƣớc ở vùng nhiệt đới, nhiều tổ chức quốc tế đã tiến hành nhiều dự án 4 nhằm làm rõ vai trò của LSNG, định chế quản lý, các chính sách liên quan, thông tin tiếp thị. Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp đặt tại Indonesia (CIFOR) đã chú trọng nhiều về nghiên cứu LSNG. Trung tâm đã đề ra phƣơng pháp phân tích với các lâm sản thƣơng mại thế giới. Trung tâm quốc tế về nông lâm kết hợp (ICRAF) đã và đang thực hiện nghiên cứu làm thế nào để sản xuất, nâng cao sản lƣợng của cây rừng có tiềm năng.
Tổ chức lƣơng thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) và trung tâm đào tạo vùng về lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) cũng có nhiều những nghiên cứu về LSNG trong đó có cách tiếp cân về phƣơng pháp luận về “ Từ sản xuất đến hệ thống tiêu thụ ” coi nhiệm vụ sản xuất của rừng là cần thiết cho cung cấp bền vững, phân phối thu nhập, đảm bảo thị trƣờng và chính sách thị trƣờng, định chế. FAO thành lập ra mạng lƣới nghiên cứu LSNG trên thế giới liên kết giữa 1.600 cá nhân và cơ quan và đã xuất bản tạp chí “ Tin tức về Lâm sản ngoài gỗ ”, tổ chức một số hội thảo quốc tế về LSNG ( ví dụ nhƣ Thái Lan năm 1994, ở Indonesia năm 1995 ). Các tổ chức phi chính phủ của Đức hỗ trợ cho nhiều nghiên cứu LSNG tại Châu Phi (Bolivia, Brukian, Faso, Tanzania.) Chính phủ Hà Lan tài trợ cho nhiều chƣơng trình dự án về LSNG trên khắp thế giới hƣớng tới sử dụng bền vững nguồn LSNG [4].