ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây ngành nhân nuôi động vật hoang dã đang phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh những loài gia súc, gia cầm có giá trị kinh tế đang đƣợc nuôi phổ biến thì hiện nay một số hộ dân ở Thanh Hóa đang có xu hƣớng chuyển sang nuôi các loài thủy đặc sản có giá trị nhƣ rắn, baba, Ếch, lƣơn,…Trong đó, Ếch cũng đang là đối tƣợng đƣợc nhiều ngƣời quan tâm. Các loài Ếch nhái đang là nguồn thực phẩm khá phổ biến đƣợc sử dụng tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới; các món ăn đƣợc chế biến từ ếch nhái là món truyền thống trong nền văn hóa ẩm thực nhiều quốc gia. Thịt ếch nhái có hàm lƣợng dinh dƣỡng cao; nhiều protein, chất béo, đƣờng, canxi, phốt- pho, kali, natri, sắt, đồng, magiê, kẽm, selen, vitamin A, vitamin nhóm B, D, E, biotin, caroten.
Phân tích cụ thể cho thấy: trong 100g thịt Ếch có 75g nƣớc, 20g protit, 1,1g lipit, 3,9g tro, 22 mg canxi, 159 mg photpho, 1,3 mg sắt, 0,04 mg vitamin B1, 0,22 mg vitamin B12, 2,1 mg vitamin PP.cung cấp cho cơ thể khoảng 92kcal ( https://vi.org/wiki/Thịt_Ếch). Tuy nhiên với nhu cầu sử dụng cao, số lƣợng Ếch nhái trong tự nhiên không thể cung cấp đủ, do vậy đã mở ra nghề nuôi Ếch thƣơng phẩm ở Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam nghề nuôi Ếch đã xuất hiện từ rất lâu, nhƣng chƣa có quy mô và kỹ thuật nuôi. Ban đầu ngƣời dân thu bắt Ếch giống từ đồng ruộng về nuôi dƣỡng và thuần hóa, nhƣng do bản năng hoang dã sợ bóng ngƣời và thức ăn không phù hợp nên không mang lại hiệu quả.
Năm 2001, ông Đặng Ngọc Lý xã Thạch Phú, Thạch Hà, Hà Tĩnh đã mở trang trại nhân nuôi loài Ếch thái lan (Rana rugulosa) với sự giúp đỡ của các chuyên gia Thái lan trên quy mô 5ha. Mô hình chăn nuôi đã mang lại hiệu quả cao và có kinh nghiệm để chuyển giao kỹ thuật cho các địa phƣơng khác. Qua tìm hiểu nguồn giống và kỹ thuật nuôi, một số hộ gia đình tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành chăn nuôi thƣơng phẩm loài Ếch thái lan quy mô hộ gia đình. Trong quá trình chăn nuôi áp dụng kỹ thuật đƣợc bàn giao và học hỏi ban đầu hiệu quả chƣa cao, do con giống bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố môi trƣờng tại địa phƣơng.
1 Là một ngƣời con của xã Quang Trung, tham gia vào hoạt động nuôi Ếch thái lan của gia đình từ khi còn nhỏ, nên bản thân cũng đã đúc kết đƣợc một số kinh nghiệm chăn nuôi loài ếch này. Vì lẽ đó tôi đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Đánh giá thực trạng áp dụng kỹ thuật nuôi Ếch thái lan (Rana rugulosa) quy mô hộ gia đình tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa”. Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, nghiên cứu sẽ tổng kết kỹ thuật nuôi Ếch thái lan, đánh giá những thuận lợi và khó khăn của địa phƣơng khi áp dụng kỹ thuật nuôi đƣợc chuyển giao; từ đó đúc rút những kinh nghiệm để giảm thiểu chi phí và tối ƣu hóa lợi nhuận, hƣớng đến các vụ Ếch tiếp theo có hiệu quả tốt hơn. 2 Chƣơng I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nuôi ếch trên thế giới Ếch bò (Rana catesbeina) đƣợc nuôi ở Mỹ tập trung nhiều ở phía Đông và vùng núi Rockey.Ngoài Mỹ còn có một số nƣớc nuôi Ếch bò phổ biến nhƣ Mexico, Canada, Brazil, Ecudo.
Ếch đƣợc nuôi trong các bể xi măng với phƣơng pháp ƣớc hay phƣơng pháp khô và sử dụng thức ăn viên. Năng suất đạt từ 4 - 6 kg/m2/vụ cho phƣơng pháp bể khô, 10 - 15 kg/m2/vụ cho phƣơng pháp bể ƣớt. Gần đây một số nƣớc nhập khẩu và nuôi hiệu quả Ếch bò nhƣ Pháp, Nhật, Tây Ban Nha, Ấn Độ và một số nƣớc phía đông Châu Á ( John Backer, 1998; trích bởi Phạm Trí Hảo và ctv. Ở Đài Loan đã phát triển nghề nuôi Ếch công nghiệp từ năm 1990.
Với loài Ếch bản địa Rana tigrina pan therina, Figzinger. Ngƣời ta thu gom Ếch bố mẹ trƣởng thành từ tự nhiên và cho sinh sản. Nòng nọc nở ra đƣợc tập cho ăn thức ăn chế biến đến khi thành Ếch giống. Ếch giống bán ra đƣợc nuôi trong bể xi măng hay ao đất có lƣới bao quanh.
Thức ăn đƣợc sử dụng là thức ăn viên dạng nổi với hàm lƣợng protein 30 - 35%, lipit 3%, để sử dụng nuôi đến thu hoạch. Hệ số sử dụng thức ăn là 1,5 - 2,0 (Lo Chen, 1990). Ngoài ra Đài Loan còn nhập giống Ếch bò Nam Mỹ (Rana catesbeiana) để nuôi. Nhƣng do khí hậu mùa đông thấp không thích hợp cho sự phát triển của Ếch nên chỉ có thể nuôi đƣợc 8 - 9 tháng trong năm.
Thái Lan cũng phát triển nghề nuôi Ếch trong những năm qua với 2 loài bản địa Ranatigerina tigrina, Rana rugulosa. Gần đây Thái Lan cũng nhập thêm Ếch bò Nam Mỹ (Rana catesbeiana) nuôi thử nghiệm. Năm 1995, Thái lan có trên 300 trại nuôi Ếch quy mô công nghiệp. Ếch đƣợc nuôi chủ yếu trong các bổ xi măng với kích cỡ 3x4x1,2m, mức nƣớc từ 20 - 30 cm.
Trong các bể đặt giá thể để Ếch nhảy lên khỏi mặt nƣớc và cũng là nơi cho Ếch ăn. Mật độ nuôi 60 - 80 con/m2 nòng nọc và Ếch thịt đều đƣợc cho ăn bằng thức ăn viên với hàm lƣợng 3 protein dao động từ khoảng 40 - 28%. Trọng lƣợng 300 - 400g cho lài Ếch bò sau khi nuôi 4 -5 tháng, còn với Ếch bản địa thì phải mất 6 - 8 tháng nuôi.2 Tình hình nuôi ếch ở việt nam Ở Việt Nam loài Ếch bản địa Rana tigerina (hay còn gọi là Ếch đồng) đƣợc nuôi từ lâu ở một số địa phƣơng miền Bắc nhƣ: Đông Anh (Hà Nội), Hiệp Hà, Yên Phong (Hà Bắc), Tử Lộc (Hải Hƣng), Thanh Tất (Hà Tây). Gần đây một số nơi vùng ven Thành Phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long cũng bắt đầu nuôi Ếch đồng và Ếch thái lan.
Nhƣng hình thức nuôi còn theo phƣơng pháp nuôi thủ công dân gian. Giống Ếch đƣợc thu bắt từ tự nhiên đem về nuôi chủ yếu trong ao đất, thức ăn sử dụng là côn trùng và cá tạp. Với phƣơng pháp nuôi này thì năng suất thấp, tỷ lệ hao hụt cao, hiệu quả kinh tế chƣa tốt.Mặt khác, con giống nuôi còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, nhƣng với mức độ khai thác Ếch thịt nhƣ hiện nay thì nguồn giống ngày càng cạn kiệt, khan hiếm. Sau khi du nhập vào Việt Nam Ếch thái lanđƣợc nhân nuôi rộng rãi.
Ban đầu Ếch đƣợc nhân nuôi tại các trang trại lớn và phổ biến rộng rái cho bà con. Đƣợc biết, hiện nay nhiều tỉnh – thành trong nƣớc đang có nhiều nông dân lập trại nuôi Ếch công nghiệp.Tại thành phố Hồ Chí Minh cũng có nhiều cơ sở nuôi Ếch giống, trong đó có hai trại lớn mà chúng tôi đƣợc biết và có dịp ghé thăm: đó là trại Ếch giống ở dốc cầu Trƣờng Phƣớc, quận 9, và trại Ếch giống An Lộc ở số 94B/1055 đƣờng Nguyễn Văn Dung, phƣờng 17 quận Gò Vấp do kỹ sƣ Phạm Thanh Tâm lập ra. Trại An Lộc đang nuôi 10 ngàn con giống Ếch Bò (Bull Frog) và con số này sẽ còn tăng cao hơn nứa trong tƣơng lai gần. Trại An Lộc trƣớc đây nuôi cá sấu, nay chuyển sang nuôi Ếch giống công nghiệp, và dự định thuộc da Ếchđể nhồi bông, và tạo những mặt hàng mỹ nghệ từ da Ếch.3 Tổng quan về ếch thái lan (Rana rugulosa) 1.1 Phân loại Theo Lê Thanh Hùng (2004), Trần Kiên và Nguyễn Thái Tự (1992), Ếch thái lan đƣợc phân loại nhƣ sau: Bộ: Anura Bộ phụ: Phaneroglosa Họ: Ranidae Giống: Rana Loài: Rana rugulosa (Wiegmann, 1834).
Hiện nay trên thế giới có khoảng 2.500 loài Ếch nhái thuộc lớp lƣỡng thê và đƣợc chia làm 3 bộ: bộ lƣỡng thê có đuôi (280 loài), bộ lƣỡng thê không chân (60 loài), bộ lƣỡng thể không đuôi (2. Ếch là loài lƣỡng thể không đuôi sống đƣợc trên cả 2 môi trƣờng: cạn và nƣớc (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2005) 1.2 Hình thái Hình thái cấu tạo của Ếch thái lan(Rana rugulosa) tƣơng tự nhƣ Ếch đồng ở Việt Nam (Rana tigerina). Tuy nhiên chúng ta có thể phân biệt hai loài dựa vào những đặc điểm nhƣ sau: Ếch thái lan có kích thƣớc lớn hơn và màu sắc nhạt hơn Ếch đồng, trên vành miệng Ếch thái lan có viền xanh nhạt, Ếch đồng không có đặc điểm này. Ếch thái lan có mình ngắn, không phân cách với đầu.
Chiều dài thân trung bình 7 -13cm, nặng 100 - 200g. Chân trƣớc có 4 ngón rời nhau, chân sau dài hơn chân trƣớc và có 5 ngón dính liền nhau bằng màng mỏng (Nguyễn Văn Kiểm và ctv. Các tuyến nhầy đƣợc tìm thấy trên da Ếch thái lan bởi hormone tuyến giáp (Dent etal., 1973) giúp cơ thể chúng luôn ẩm ƣớt do đƣợc cấu tạo bởi nhiều lớp, lớp thƣợng bìcó nhiều lớp tế bào và tuyến nhờn. Lớp hạ bì tiêu giảm và chỉ dính với cơ bên dƣới làmthành những vách ngăn giữa các túi bạch huyết.
Do đó da Ếch thái lan chỉ dính với cơthể một số đƣờng nhất định. Miệng Ếch rộng, mắt lồi, mi trên không cử động đƣợc, midƣới có thể che đậy mắt.Hai mũi 5 ở gần mõm đầu (Dƣơng Nhựt Long và ctv, 2007).Phần lƣng Ếch thái lan có màu đất xám nâu nhạt, phần da bụng có màu trắng bạt, hai đùi có phần hoa văn sắc tố màu xanh pha trắng bạt (Nguyễn Văn Kiểm và ctv. Mắt Ếch thái lan to nhƣng kém phát triển, chỉ phân biệt đƣợc các vật di động. Chúng không thể nhận biết đƣợc các vật bất động hay di động chậm.
Ếch thái lan chỉ phân biệt đƣợc 2 màu đỏ và xanh da trời. Khứu giác Ếch thái lan cũng kém phát triển nhƣng thính giác lại rất tốt, có thể phát hiện tiếng động ở khoảng cách rất xa (Bùi Minh Tâm và ctv.1 Hình dạng ngoài Ếch thái lan (Rana rugulosa) Ếch thái lan trao đổi khí chủ yếu qua da. Ngoài ra phổi Ếch thái lan cũng là bộ máy hô hấp riêng là thanh quản. Da Ếch thái lan là một bộ phận đặc biệt và có vai trò quan trọng đối với đời sống của chúng.
Vì Ếch thái lan là loài lƣỡng cƣ nên da giữ chức năng hô hấp trong nƣớc và môi trƣờng ẩm ƣớt còn phổi chỉ giúp Ếch thở trên cạn. (Dƣơng Nhựt Long và ctv. Hệ cơ của Ếch thái lan đã hình thành những bó cơ riêng biệt (Trần Kiên, 1996). Hệ xƣơng của Ếch thái lan vẫn chƣa hoàn chỉnh đối với đời sống trên cạn.
Các chi đã phát triển nhƣng chƣa đủ sức nâng đỡ cơ thể lên khỏi mặt đất.