Chương I : Cơ sở khoa học cho việc thiết kế nhà ở cao ting tại Việt Nam «ˆ Chương III: Đánh giá thiết kế nhà ở cao tầng do Nhật Bản thiết kế tại Việt Nam ~ Phần III : Kết luận và kiến nghị ~ Tài liệu tham khảo. PHAN II: NOI DUNG NGHIEN CUU. CHUONG I: TONG QUAN CHUNG VE THIET KE NHA Ở CAO TANG TẠI VIỆT NAM.1 Sơ lược quá trình phát triển nhà ở cao tầng tại Việt Nam và Nhật Bản. Sơ lược quá trình phát triển nhà ở cao tầng tại Việt Nam.
Quá trình phát triển nhà ở cao tầng ở Miền Bắc bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước và được nhận thấy rõ nét nhất ở thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, kinh tết và xã hội của Việt Nam. Sự phát triên của thê loại nhà ở cao tầng này là sự phát triển của các chung cư phụ thuộc mạnh mẽ vào điều kiện kinh tế xã hội. lý do về kinh tế đã hạn chế việc phát triển nhà ở cao tầng ở Hà Nội,và khu vực đồng bằng bắc bộ trong giai đoạn đầu. Thời kỳ sau hòa bình lập lại (1945) và nhất là sau khi hoàn thành cải tạo tư bản công thương và cải cách ruộng đất (1954-1960), ở các thành phố lớn của Miền Bắc hình thành một bộ.
phận lớn cán bộ, công nhân, viên chức xã hội ch nghĩa. Nền kinh tế bao cấp cho phép điều hòa thu nhập và việc làm cho đối tượng sự dụng nhà ở và tạo ra lối sống tập thể. Nhà nước đã chủ trương xây dựng các khu tập thể đối với các nhóm nhà ở nhiều tầng và các chung cư cô điển. Điển hình là khu tập thê Nguyễn Công Trứ và khu tập thê Kim Liên ở Hà Nội cao 4-5 tầng.
Các khu nhà này được xây dựng đề đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ở tối thiểu cho đông đảo người lao động trong điều kiện eo hẹp về kinh tế. Chính vì vậy mà các khu chung cư nảy có cơ cấu và hình thức khá đơn giản ( căn hộ không khép kín thiếu khu vực sinh hoạt chung, kết cầu tường chịu lực,. Thời kỳ này được các nhà nghiên cứu gọi là Thời kỳ phôi thai, trong các nhà nhiều tầng này không có các dịch vụ công cộng phục vụ khu ở, vì thế xuất hiện các dịch vụ nhỏ tự phát và tình trạng phi tầng bận của các nhóm chức năng Từ những năm 60 đến 75 của thế kỷ XX, sự phát triển nhanh chóng của các nhà máy xí nghiệp trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc đã làm nhu cầu về nhà ở tăng lên đột ngột. Giai đoạn này đã áp dụng được công nghệ thi công lắp ghép tắm lớn do đó.
nhà ở cao tầng phát triển rất nhanh chóng, Công nghệ này tỏ ra rất hiệu quả trong xây dựng trong khi hàng loạt các khu nhà tập thể xuất hiện.Ví dụ như khu tập thể Trung Tự, Thành Công, Giảng Võ, Vĩnh Hồ. ở Hà Nội, khu chung cư Quảng Trung ở Vinh, khu chung cư Phan Chu Trinh ở Thanh. Hóa và chúng đã làm thay đôi diện mạo và lỗi sống của một bộ phận lớn dân cư đô thị Thời kỳ này là thời kỳ phát triển của nhà chung cư nhiều tầng. Từ năm 1975 đến đầu những năm 1980, các khu tập thể nhiều tầng vẫn có được sự phát triển đáng.
chi nhận, tiêu biểu là khu Thanh Xuân Bắc và Thanh Xuân Nam ở Hà Nội. Đã có một bước tiến lớn trong tô chức cơ cấu căn hộ khép kín. Các dịch vụ công cộng đã xuất hiện và đóng vào múi liên hệ tầng bậc các nhóm chức năng trong khu chung cư, tuy nhiên các dịch vụ công cộng này ( đặc biệt là công trình văn hóa) vẫn chưa được. đầu tư quan tâm đúng mức.
Năm 1978, lần đầu tiên xuất hiện một nhà cao tang ở Miền Bắc, Hà Nội đã xây dựng thí điểm một ngôi nhà ở dạng thấp cao 11 tang trong khu tap thé Giang Võ. Nhưng ngôi nhà này sau đã chuyền thành khách sạn do không đủ trang thiết bị thang máy cho các căn hộ. Như vậy, những nỗ lực bàn đầu trong việc phát triển nhà. ở cao tầng ở Hà Nội bị hạn chế chủ yếu bởi lý do kinh tế.
Khoảng thời gian hơn 10 năm, từ những năm 1980 đến đầu những năm 1990 nha ở cao tầng không được xây. do quá trình chuyền đôi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Sự phát triển của nhà nhiều tầng và nhà ở cao tầng bị chững lại. Từ những năm 1990, chính sách “ Đổi mới” cùng với sự phát triển kinh tế hội nhập quốc tế và khu vực, sự gia tăng đột biến của dân cư đô thị do quá trình đô thị hóa nhanh chóng, quỹ đất ngày càng hạn hẹp đã tạo điều kiện và thúc đây việc xây.
dựng các nhà ở cao tầng. Từ năm 1996 đến nay, các thành phó lớn Việt Nam lại chứng kiến sự trở lại mạnh mẽ của thể loại nhà ở cao tầng và các nhà phân tích gọi là Thời kì tái phát triển của nhà ở nhiều tầng và cao tầng. Các khu nhà ở cao tầng tiêu biểu của giai đoạn này là khi đô thị mới Linh Đảm (khu Bắc Linh Đàm và khu Bán đảo Linh Đàm), khu đô thị mới Định Công. Tiếp ngay sau đó là các khu đô thị mới Pháp Vân- Tứ Hiệp, khu đô thị mới Trung Hòa- Nhân Chính, khu My Dinh I và I v.
Các căn hộ trong khu đô thị mới này cũng được tổ chức hợp lý hơn và có tiêu chuẩn điện tích cao hơn. Các dịch vụ công cộng, vườn hoa cây xanh được tô chức theo nguyên tắc của đô thị hiện đại do quy hoạch đồng bộ và phát triển theo chiều cao, giải phóng mặt đất. Giai đoạn này đặc biệt chú trọng đến các dịch vụ công. công bởi sự đòi hỏi và thích ứng nhu cầu xã hội và nền kinh tế phát triển.
Các dịch vụ công cộng trở thành một tiêu chí hàng đầu đánh giá tiêu chuẩn của một khu ở cao. Nền kinh tế phát trién, đời sống của cư đân đô thị tăng lên với những nhu cầu sống đòi hỏi cao, các tiêu chuẩn sống nâng lên ngang tầm khu vực và thế giới đã thúc đây việc xây dựng những ngôi nhà ở cao tầng với những căn hộ cao cấp, dịch vụ công cộng tiêu chuẩn quốc tế. Điền hình là những khu nhà ở cao tầng cao cấp 27 Huỳnh Thúc Kháng, dự án khu căn hộ cao cấp The Manor, dự án khu căn hộ cao cấp. Golden Westlake Executive Residences.va 1 số dự án khác đã và đang triển khai các dự án khu nhà ở cao tầng của mình, đóng góp thêm quỹ nhà ở đô thị va diện mạo.
kiến trúc trong giai đoạn này.1 Khu đô thị kiểu mẫu Linh Đàm [11] Hình 1.3 Khu đô thị Mỹ Đình Ở Việt Nam nói chung, cũng như đông bằng bắc bộ nói riêng thi Nhà ở cao ting, theo dự thảo Bộ Xây dựng được phân thành 4 hạng theo c tiêu chí: về quy úc; về hạ tầng kỹ thị ật và ha ting x à về chất lượng xây dựng. Nhà ở cao tằng hạng 1 (cao cấp) diện tích từ 70m2 trở lên, có chất lượng sử dụng cao nhất; có hệ thống giao thông bên ngoài nhà, có sân vườn, thảm cỏ; môi trường thoáng mát, sạch đẹp; không gian chức năng tối thiểu gồm phòng khách, phòng ngủ, khu vực bếp, phòng ăn, phòng vệ sinh, phòng ngủ chính có phòng vệ sinh riêng: trang thiết bị cao cấp; mỗi căn hộ có tối thiểu 1,5 chỗ để xe ô tô; có thang. máy, thang bộ, thang thoát hiểm, phòng chống cháy nỗ, thu gom và xử lý rác; có khu. vui chơi, giải trí ngoài trời rộng rãi, niên hạn sử dụng trên 100 năm.
Nha 6 cao ting 2, diện tích từ 60m2 trở lên, có sân vườn, thảm cỏ, cây xanh, phòng ngủ chính lớn hơn 15m2, mỗi căn hộ có tối thiểu 1 chỗ đề xe ô tô. 'Nhà ở cao tầng 3, diện tích từ S0m2 trở lên, có hệ thống giao thông thuận tiện, môi trường đảm bảo vệ sinh; diện tích phòng ngủ chính lớn hơn 12m2; các phòng, đều đảm bảo thông gió, chiếu sáng; hạ tầng xã hội đồng bộ, đầy đủ gồm sân tập thể thao, cơ sở y tế, trường học, dich vụ thương mại trong bán kính 4 km. Nhà ở cao tầng 4, được tính theo tiêu chuẩn hiện hành, giao thông thuận tiện và hệ thông cứu hỏa, cứu nạn đảm bảo. tất cả các chung cư được phân hạng phải đảm bảo phù hợp với các quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế và kỹ thuật hiện hành, quy hoạch chỉ tiết xây dựng do cơ quan nhà nước có thảm quyền phê duyệt.
Việc đánh giá, phân hạng nhà ở cao tầng được thực hiện sau khi có dự án và thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật thi công được cơ quan có thm quyền phê duyệt; được thực hiện đối với từng chung cư độc lập (có một hoặc nhiều đơn nguyên liền nhau thành một khối). Sơ lược quá trình phát triển nhà ở cao ting tai Nhật Bản. Ngay sau khi kết thúc Thế Chiến thứ 2 là thời kỳ người dân Nhật Bản di cư é at từ vùng quê vào đô thị, và do thiếu hut nhà ở trằm trọng, Chính phủ Nhật Bản thực. hiện chính sách nhà ở chủ yếu dựa trên nguồn cung cấp nhà ở trực tiếp hoặc những cuộc vận động tự xây dựng nhà ở.
Đắt nông nghiệp tại ving ngoại ô được chia nhỏ, tái phân phối và chuyển thành đất xây dựng, và do không có sự điều phối về quyền sử dụng và sở hữu đất, cảnh quan đô thị bị biến đôi méo mó xâm hại và giá nhà ở tăng cao khiến môi trường ở sút kém nghiêm trọng. Mặc dù vậy, vẫn có những kiến trúc sư cố gắng sáng tạo và khai thác hiệu quả những lô đất nhỏ tại trung tâm các. thành phố trong thập kỷ 1970. Sự tiến hóa của nhà ở căn hộ (apartment) đã ảnh hưởng tới sự cải thiện nhà ở vào mỗi giai đoạn lịch sử.
Trong những năm gần đây, người ta được chứng kiến sự xuất hiện các nhà ở cao tầng cao cấp quy mô lớn nhằm hợp thành những khu ở quy mô lớn hơn và nhằm xây dựng những khu ở bền vững. Điều này đánh dấu một bước đôi mới từ chỗ xây dựng những công trình theo kiểu dáng lộn xộn trên các khu đất nhỏ sang một lối tiếp cận mới hướng tới sự phát triển. Trong những năm gần đây, rất nhiều dự án tái phát triển được tiến hành tại những đô thị lớn, bao gồm Tokyo, Osaka và Yokohama.