ĐẶT VẤN ĐỀ Chúng ta đang sống trong một thời đại với những mâu thuẫn gay gắt giữa các mục tiêu phát triển và các vấn đề suy thoái tài nguyên môi trường do chính con người gây ra. Sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại tất yếu phải đô thị hóa và công nghiệp hóa. Quá trình này kéo theo nhu cầu ngày càng tăng về tài nguyên thiên nhiên. Nhưng dân số thì tăng rất nhanh, còn tài nguyên thiên nhiên thì có hạn.
Sự khan hiếm về nguyên liệu, năng lượng, lương thực và nạn ô nhiễm môi trường ngày càng tăng đã và đang là những vấn đề cấp bách trong thời đại chúng ta. Đất nước Việt Nam mến yêu của chúng ta không nằm ngoại lệ, chúng ta phải có những quyết sách đúng đắn để giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa các mục tiêu kinh tế và yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái. Trong công cuộc phát triển bền vững của đất nước, rừng và nghề rừng có một vai trò hết sức quan trọng, giải hòa phần nào mâu thuẫn nêu trên. Rừng là nhân tố môi trường quan trọng bậc nhất và cũng là nguồn nguyên liệu cần thiết cho phát triển kinh tế.
Rừng giữ vai trò quan trọng không gì thay thế được trong nhiều lĩnh vực: Phòng hộ bảo vệ môi trường, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen, tạo cảnh quan, cung cấp nhiều loại lâm sản và lâm sản ngoài gỗ thiết yếu,. đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Theo đà phát triển của xã hội, kiến thức về rừng của con người ngày một sâu sắc hơn, quan điểm về mục tiêu sử dụng rừng ngày một đúng đắn và toàn diện, các biện pháp quản lý sử dụng rừng cũng dần được hoàn thiện. Tuy vậy, những đổi mới và tiến bộ của quản lý sử dụng rừng chưa đủ sức ngăn chặn nạn suy thoái rừng gây ra từ những nguyên nhân mang tính xã hội,.
dẫn đến tình trạng phá vỡ cân bằng sinh thái, gây tổn hại môi trường sống, thiên tai mạnh hơn, gây nhiều thiệt hại đến tính mạng và tài sản của con người. 2 Đây là nỗi lo chung của hành tinh ta chúng ta hiện nay. Vì thế yêu cầu đặt ra hiện nay cho chúng ta là phải sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là tiếp tục nghiên cứu và khôi phục lại các hệ sinh thái rừng để duy trì khả năng cung cấp của rừng. Việc tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về rừng vẫn là cần thiết để con người đưa ra cách thức cải tạo, phục hồi, quản lý sử dụng rừng,.
từ đó nâng cao năng suất chất lượng rừng , biến rừng trở thành một người bạn thân thiết với con người. Để sử dụng, quản lý và phục hồi các hệ sinh thái rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng thì việc nghiên cứu cấu trúc và động thái có ý nghĩa hết sức quan trọng. Việc nghiên cứu cấu trúc rừng nhằm duy trì rừng như một hệ sinh thái ổn định, có sự hài hoà của các nhân tố cấu trúc, lợi dụng tối đa mọi tiềm năng của điều kiện lập địa và phát huy bền vững các chức năng có lợi của rừng về kinh tế, xã hội và môi trường; đồng thời chúng ta nắm bắt được các qui luật phát triển của rừng để có các quyết định điều chỉnh hợp lý và kịp thời trong từng giai đoạn phát triển của rừng. Vì vậy, việc xác định các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên rừng là nhiệm vụ rất quan trọng.
Để có cơ sở đề xuất những biện pháp kỹ thuật tác động hợp lý và hiệu quả, cần có những hiểu biết về lâm học, mà trong đó đặc điểm cấu trúc, động thái được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để giúp chúng ta đưa ra các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp theo hướng “tiếp cận tự nhiên”, là cơ sở tạo nên sự thành công của công tác phục hồi rừng. Tuy nhiên, cho đến nay những nghiên cứu về cấu trúc và động thái vẫn chưa thể bao quát cho mọi khu rừng, chưa thể làm nổi bật những điển hình và đặc thù của mọi loại hình rừng ở từng khu vực cụ thể. VQG Ba Bể được thành lập theo quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích 7.226 ha là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Từ khi có quyết định thành lập VQG, hiện tượng khai thác, tác động không tốt vào rừng của người dân đã giảm đáng kể.
Nhưng, không thể không nói đến một bộ phận nhỏ người dân khai thác trái phép vẫn tiếp tục diễn ra trong Vườn, đây là nguyên nhân chính làm suy thoái tài nguyên rừng nơi đây. Đồng thời diện tích rừng trước khi có có quyết định thành lập VQG đã bị khai thác làm cho suy thoái quá mức, việc khôi phục các hệ sinh thái rừng này là cần thiết cho VQG, đặc biệt cho hoạt động du lịch. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài: “Đánh giá bước đầu về thành phần loài, cấu trúc và động thái tái sinh của các ô tiêu chuẩn định vị trong rừng lá rộng thường xanh vườn quốc gia Ba bể, Bắc cạn” được thực hiện nhằm góp phần bổ sung những hiểu biết về đặc điểm thành phần loài, cấu trúc và động thái tái sinh từ đó đề xuất biện pháp lâm sinh phù hợp nhằm khôi phục hệ sinh thái rừng nơi đây. Đây cũng là một trong những nội dung nghiên cứu thuộc đề tài “Nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc và động thái của một số kiểu rừng chủ yếu ở Việt Nam” do nhóm nghiên cứu của TS.
Trần Văn Con, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam thực hiện. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và theo thời gian. Cấu trúc rừng hợp lý là cơ sở quan trọng phát huy tối ưu hiệu ích của rừng.
Cấu trúc rừng trồng có thể được con người thiết kế một cách đầy đủ ngay từ khi thiết lập. Ngược lại , cấu trúc rừng tự nhiên được cho trước như là nhân tố tự nhiên, và con người thông qua một loạt các biện pháp tác động có thể điều chỉnh, làm cho rừng có cấu trúc hợp lý mà vẫn phù hợp với quy luật tự nhiên, mang lại hiệu quả cao nhất cho con người. Để thực hiện được sự điều chỉnh này, cần phải có những hiểu biết sâu sắc về các đặc điểm và tính qui luật của cấu trúc rừng. Ngày nay, số công trình nghiên cứu đã được công bố về cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới tương đối nhiều.
Có thể điểm qua một số công trình có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như sau: a) Về cấu trúc tổ thành Rừng mưa nhiệt đới với sự đa dạng và phong phú của nó đã cuốn hút nhiều nhà khoa học nghiên cứu sâu rộng như Richards P.W (1952) [46], Catinot (1965) [43], các tác giả này đã đi sâu vào biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng phẫu diện đồ, các nhân tố cấu trúc được mô tả phân loại theo các khái niệm: dạng sống, tầng phiến. Sự phong phú của hệ thực vật rừng mưa nhiệt đới được nhiều nhà khoa học ghi nhận.W (1952) [46], trong rừng mưa nhiệt đới, trên mỗi hécta không mấy khi có ít hơn 40 loài cây gỗ, mà có trường hợp còn đến trên 100 loài. Ông cũng đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây rất phức tạp và rừng mưa đơn ưu 5 có tổ thành loài cây đơn giản, trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây.N (1962) [42], khi nghiên cứu rừng mưa ở khu vực gần Belem trên sông Amazôn, trên một ô tiêu chuẩn diện tích khoảng hai hecta đã thống kê được 36 họ thực vật và trên ô tiêu chuẩn diện tích hơn bốn hecta ở phía bắc New South Wales cũng đã ghi nhận được sự hiện diện của 31 họ chưa kể cây leo, cây thân cỏ và thực vật phụ sinh. b) Về cấu trúc tầng thứ Đối với kiểu rừng lá rộng thường xanh của vùng nhiệt đới, do tính chất phức tạp của nó nên việc xác định tầng thứ có nhiều ý kiến trái ngược nhau.
Có tác giả cho rằng ở kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi, vì không thể tìm thấy ở đây một giới hạn rõ rệt nào trong tầng cây gỗ này. Các tác giả theo quan điểm này cho rằng đã gọi là tầng thứ thì giữa tầng này và tầng khác phải có một khoảng trống rõ ràng. Beard (1946) [45] không thừa nhận sự phân tầng trong rừng Trinidad. Odum (1925) [45] nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm ở độ cao dưới 600m ở Porto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở chiều cao riêng biệt nào cả.
Nhưng ngược lại với ý kiến trên, có nhiều tác giả cho rằng rừng lá rộng thường xanh có từ 3 đến 5 tầng. Beard (1946) [45] cũng mô tả sự phân tầng rõ rệt trong rừng Trinidad, với ba tầng cây gỗ và tầng cây bụi, tầng mặt đất.W (1952) Catinot (1974) [46] cho rằng: rừng ẩm nhiệt đới có sự phân hoá mạnh, những tầng trong quần thụ rõ nét, cụ thể là có một tầng vượt tán với những cây có chiều cao trên 40m và những tầng bên dưới. Như vậy, hầu hết các tác giả nghiên cứu về rừng tự nhiên đều nhắc đến sự phân tầng của đối tượng này nhưng mới chỉ dừng lại ở mức nhận xét theo cảm tính hoặc kết luận mang tính định tính, chưa có một tiêu chí phân loại tầng thứ nhất định. Việc phân chia tầng thứ theo chiều cao cũng chỉ mang tính 6 chất cơ giới, chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới.
c) Về cấu trúc tuổi Theo Richards P.W(1952) [46], trong rừng nhiệt đới có mùa khô hạn thật rõ, dựa vào vòng năm đôi khi có thể xác định được tuổi cây gỗ đại khái gần đúng và có thể dùng phương pháp này đối với một số ít loài cây trong rừng phân mùa thường xanh, nhưng trong rừng mưa điển hình với khí hậu tương đối không phân thành mùa thì vòng sinh trưởng hình thành hàng năm không phân biệt rõ rệt. Do đó, việc xác định tuổi cây trong rừng nhiệt đới có nhiều khó khăn, đôi khi là điều không thể được.