CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VE ĐÁNH GIÁ TÁC DONG CUA CHÍNH SÁCH TRONG DE NGHỊ XÂY DỰNG LUẬT 1. Khái niệm đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng Luật 1. Định nghĩa đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng Luật 1. Chính sách “Chính sách” là một thuật ngữ phổ bién trong khoa học chính trị và khoa học pháp lý, là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng.
Thuật ngữ này được sử dụng tương đối phô biến trong đời sống xã hội và mọi chủ thé kinh tế - xã hội đều có những chính sách riêng của mình. Bởi vậy nên trên thực tế đã có nhiều cách tiếp cận, định nghĩa khác nhau về khái niệm “chính sách” ở cả trong và ngoài nước. Trên thế giới, theo khoa học pháp lý của các nước Âu - Mỹ, chính sách được định nghĩa là “những quy tắc chung, được sử dung đề định hướng hoạt động quan ly) nhà nước của Chính phú ”?. Bên cạnh đó, một số học giả nước ngoài cũng có những quan điểm về khái niệm chính sách như sau: Theo Lasswell: “Chính sách là sự lựa chọn quan trọng nhất được làm ra (và thực thi) đối với các tổ chức, cũng như đời sông cá nhân ”Š.
Còn đỗi với Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục dich được thực hiện bởi các chủ thể nhằm giải quyết một vấn đề được quan tâm ”. Wheelan nhận định: “Chính sách là quá trình mà một xã hội tạo ra và quyết định có tính bắt buộc những hành vi nào được chấp nhận và hành vi nào không được chấp nhận ””, Còn Thomas Dye khẳng định: “Chính sách là những gi mà chính phủ làm, lý do làm, và sự khác biệt nó tạo ra. Hay chính sách là bất cứ những gì mà nhà nước lựa chọn làm, hoặc không làm ”Š. Tại Việt Nam, chính sách được định nghĩa đưới các góc độ khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “chính sách là văn bản sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt mục đích nhất định, * Black Law Dictionary 7th edition, tr. 5 Lasswell, H 1951, The policy orientation, In Lerner & Lasswell (eds), The Policy Sciences, pp, 3-15, Stanford University Press. 1975, Public policy-making, New York: Praeger. 7 Wheelan, C 2011, Introduction to Public Policy, New York.
(2007) Understanding Public Policy. 9 được dé ra dựa vào đường lỗi chỉnh trị chung và tình hình thực tế ”°. Chính sách còn được hiểu “là tập hop các biện pháp được thé chế hóa của một chủ thé quản ly tác động vào đổi tượng quản ly nhằm thúc day đối tượng quan ly thực hiện mục tiêu mà chủ thé quan ly vach ra trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hoi”! (tác giả Vũ Cao Dam) hay “là đường Idi cụ thể của một chỉnh đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy ”11 (tác giả Nguyễn Minh Thuyết). Mặc đù có nhiều khái niệm về chính sách được đưa ra nhưng những cách tiếp cận này lại có điểm chung nhất định.
Theo đó, có thé hiểu chính sách là hành động, phương hướng nhằm giải quyết các van đề công mang tính xã hội do chính quyền xây dựng nên. Bên cạnh các khái niệm về chính sách trong các tác phẩm, công trình nghiên cứu, khái niệm chính sách cũng đã được quy định cụ thé tại Nghị định số 59/2024/NĐ-CP sửa đối, bé sung một số điều của Nghị định 34/2016/NĐ-CP tại khoản 1 Điều 1: “Chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để thể chế hóa đường lỗi, chủ trương của Đáng, giải quyết vấn đề của thực tiên nhằm đạt được mục tiêu nhất định”. Ngoài ra, khái niệm này cũng được sửa đổi tại Luật BHVBQPPL 2025. Theo đó, chính sách là “záp hợp các giải pháp cu thé của Nhà nước để giải quyết một hoặc một số vấn dé của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định, phù hop với chủ trương, đường lỗi cha Đảng”.
Đây được xem là định nghĩa chính thức về “chính sách” trong hoạt động DGTDCS của đề nghị xây dựng luật mà đề tài tiếp cận, là cơ sở quan trọng nhằm thống nhất cách hiệu về chính sách dưới góc độ pháp lý, giúp phân biệt chính sách của VBQPPL với các chính sách khác. Mỗi chính sách trong đề nghị xây dựng VBQPPL nói chung bao gồm ba yếu tố cấu thành chính: (1) Vấn đề thực tiễn cần giải quyết; (2) Định hướng, mục tiêu giải quyết vấn đề và (3) Các giải pháp của Nhà nước dé giải quyết van đề theo mục tiêu đã xác định. Như vậy, Nhà nước sẽ đưa ra chính sách khi có van đề được dự báo, đang hoặc đã xảy ra và nội dung của van dé đó tác động tiêu cực, ảnh hưởng đáng kê về thời gian, không gian của ? Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Da Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Da Nẵng, tr.
10 Vũ Cao Dam (2011), Giáo trình khoa học chính sách, Nxb. Dai học quốc gia Hà Nội. 1! Nguyễn Minh Thuyết. (2012) Chính sách và công cụ phân tích - Bai giảng tại Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dan cử, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 7/2012.
10 một hoặc một số nhóm đối tượng trong xã hội, hoặc ảnh hưởng đến quá trình vận hành của cơ quan nhà nước. Mục tiêu giải quyết van đề là xác định mức độ giải quyết van đề ma Nha nước mong muốn đạt được nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của van đề đó trong thực tế trong mức độ ngắn hoặc dài hạn. Đề đạt được mục tiêu này, cần có các giải pháp hữu hiệu thực hiện chính sách. Day là các phương án cu thé dé giải quyết vấn đề, phải phù hợp với quy mô, phạm vi của vấn đề và khắc phục được chính xác các nguyên nhân gốc rễ gây ra nó.
Đây là cách tiếp cận xây dựng, hoạch định chính sách dựa trên nhu cầu thực tiễn và nhằm để giải quyết van đề thực tiễn. Trong quan lý nhà nước, chính sách có mỗi quan hệ mật thiết với pháp luật, chính sách là cơ sở nền tảng để xây dựng VBQPPL. Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách. Chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, tạo động lực và góp phần hoàn thiện pháp luật, đảm bảo pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng được yêu cầu của xã hội.
Ngược lại, pháp luật là công cụ dé cụ thé hóa và thực hiện các chính sách, đảm bảo chính sách được triển khai một cách hiệu quả và bên vững. Việc xây dựng luật thường dựa trên nhiều chính sách có mối quan hệ chặt chẽ, không chỉ với nhau mà còn với các chính sách hiện hành. Chất lượng của các chính sách này có vai trò then chốt trong việc giải quyết các van đề thực tiễn, đồng thời thúc đây sự tiến bộ của xã hội. Để xây dựng được một chính sách tốt, cần tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu được nêu rõ trong những vấn đề cần tập trung của nội dung thâm định đề nghị xây đựng luật quy định khoản 4 Điều 31 Luật BHVBQPPL năm 2025: tính cấp thiết, hợp lý; hợp hiến, hợp pháp, tuân thủ và thống nhất hệ thông pháp luật và đường li, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; đảm bảo yêu cầu về quốc phòng, an ninh, nguồn tài chính, nguồn nhân lực, đảm bảo bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có); tuân thủ trình tự, thú tục xây dựng chính sách.
Đánh giá tác động của chính sách DGTDCS (Policy Impact Assessment - PIA) từ lâu đã trở thành một hoạt động quan trọng trong quy trình xây dựng chính sách nói chung và xây dựng VBQPPL nói riêng nhằm làm rõ ảnh hưởng của chính sách đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và đối với sự phát triển của xã hội nói chung. Bởi vậy nên đã có nhiều nghiên cứu, giải thích và định nghĩa về hoạt động này. II Thuật ngữ “đánh giá tac động pháp luật” (Regulatory Impact Assessment - RIA) được sử dụng lần đầu tiên trên thé giới vào giữa những năm 1970 tại Mỹ. Khái niệm này được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia phát triển nhằm đảm bảo rằng các quy định pháp luật được ban hành đều là các quy định chất lượng và dự báo được các tác động tiềm ân của chính sách.
Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OCED), ĐGTĐ pháp luật là “mét phương pháp có tính hệ thong được sử dụng nhằm đánh giá một cách toàn điện, nghiêm túc về các tác động của chỉnh sách trong một văn bản pháp luật được đề xuất hay một văn bản hiện có và đánh giá các phương án khác để xử lý vấn đề thực tiễn mà không can phải sử dung tới biện pháp ban hành VBQPPL ”. Như vậy, theo quan điểm của OECD, DGTD pháp luật là một quá trình phân tích toàn diện các ảnh hưởng, cả tích cực lẫn tiêu cực, mà một sự thay đổi chính sách có thé mang lại. Quá trình này không chi dừng lại ở việc nhận diện các tác động tiềm ấn mà còn bao gồm việc xem xét và đề xuất một loạt các lựa chọn khác nhau dé thực hiện sự thay đổi về chính sách một cách hiệu quả nhất. Các tác giả nghiên cứu về RIA tại Việt Nam cũng có sự đồng nhất về quan điểm trên, rang RIA là “gud trình phân tích và đánh giá thông tin một cách hệ thông, qua đó xác minh được rõ ràng, chính xác van dé bắt cập cũng như giải pháp chỉnh sách tốt nhất dé giải quyết van đề đó ”12 hay là “một tập hợp các bước logic hỗ trợ cho việc chuẩn bị các đề xuất chỉnh sách, bao gôm việc nghiên cứu sâu các hoạt động di kèm với quá trình xây dựng chính sách và chính thức hóa các kết quả nghiên cứu bằng một bản báo cáo độc lập 13.
Tại Việt Nam, thuật ngữ DGTDCS được sử dụng chính thức trong giai đoạn tiền chính sách nhằm lựa chọn chính sách có chất lượng cao. Có quan điểm cho răng, ĐGTĐCS là “quad trình dự đoán và xác định những tác động có thé xảy ra của một phương án chính sách bat kp” hoặc là “guá trình xác định một cách có hệ thong mục tiêu và khả năng ảnh hướng cũng như khả năng thực hiện của một chính sách bat me, 12 Bộ Thông tin và Truyền Thông (2024), “Toa dam về tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật", Tạp chí Thông tin và Truyền thông. !3 Bộ Tư pháp - UNDP (2011), Số tay Kỹ thuật soạn thảo, thâm định, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật, Nxb.