Chương I: Tổng quan tài liệu Chương 2: Phạm vi và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và thảo luận gồm Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo. CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.TONG QUAN NGHIEN CUU VE BIEN DOI KHi HAU 1. Những khái niệm Biến đối khí hậu (Chimate Change), theo IPCC (2007), là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyền [48] Kịch bản Biến đổi khi hu (Scenario), theo IPCC, kich ban BĐKH là bức tranh toàn cảnh của khí hậu trong tương lai dựa trên một tập hợp các mối quan hệ khí hậu, được xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu những hậu quả của BĐKH do con người gây ra và thường được dùng như là đầu vào cho các quy mô đánh giá tác động [48] Tính dễ bị tốn thương (Vulnerabilip›) là mức độ mà BĐKH có thể gây tôn hại hay bắt lợi cho hệ thống; khi đó tính dễ bị tốn thương không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thông mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới [48] Ủng phó với biến đổi khí hậu (Response) là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH.
Như vậy, ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BDKH. Thich ứng (adapration) với BĐKH là sự điều chinh hệ thống tự nhiên hoặc KT - XH đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. Tình hình nghiên cứu BĐKH trên toàn cầu Vấn đề BĐKH đã được Arrhenius, một nhà khoa học người Thụy Điển, đề cập đến lần đầu tiên năm 1896. Đến cuối thập niên 1980, khi nhiệt độ bắt đầu tăng lên, các nghiên cứu về hiện tượng nóng lên toàn cầu được các nhà khoa học bắt đầu quan tâm nhiều hơn.
Năm 1988, Tổ chức liên Chính phủ về BĐKH của Liên hiệp quốc (IPCC) ra đời đã đánh dấu bước quan trọng về nhận thức và hành động của toàn thế gi trước thảm họa BĐKH toàn cầu. Các báo cáo của IPCC là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị Thượng đỉnh của hiệp quốc về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro, 1992; Hội nghị các bên nước tham gia Công ước khung của Liên hiệp quốc về BĐKH (từ COP 1 đến COP 18) và của các Hiệp ước quốc tế như UNECCC.[17] Trong phạm vi các nước Đông Nam Á cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu như của Manton và cs (2001) đã xem xét xu thế giáng thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và nam Thái Binh Duong. Đánh giá tác động và những tôn thương của BĐKH đến khu vực đô thị có Satterthwaite (2009) [17]. Laboyrie (2010) trong công trình "Những biện pháp thích ứng với BĐKH ở Hà Lan” để ứng phó và thích ứng với BĐKH đã đề xuất xây dựng hệ thống công trình chống lũ Delta Work dọc bờ biển và cải tạo hệ thống đê [17] Như vậy, hiện nay việc nghiên cứu, đánh giá tác động của BĐKH cũng như đề xuất các giải pháp, chiến lược và kế hoạch ứng phó với BĐKH đã trở thành vấn để mang tính toàn cầu.
Tuy vậy, vẫn còn nhiều vấn đề cần được thảo luận. Thêm vào đó các nghiên cứu dựa vào cộng déng (community - based) đã không được chú trọng và các sản phẩm của mô hình khí hậu toàn cầu và các kịch bản là quá thiếu các thông tin chỉ tiết phục vụ quy hoạch có hiệu quả và các biện pháp thích ứng ở quy mô địa phương. * Những biểu hiện của BĐKH toàn cầu Theo IPCC [48], các biểu hiện chính của BĐKH toàn cầu đã quan sát được gồm: - Sự gia tăng nhiệt độ không khí trên biển và dat liền [47] - Sự tan chảy lan rộng của băng tuyết [47]; ở Bắc bán cầu, diện tích băng phủ giảm đi 7% so với năm 1900; nhiệt độ tại đỉnh lớp băng đã tăng 3'C so với năm 1982 [24] - Từ 1901 - 2005, lượng mưa tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 30°N nhưng lại giảm đi ở vùng nhiệt đới [24] ~ Hạn hán ở Bắc bán cầu từ những năm 1950 và ở Nam bán cầu từ 1874 - 1998 [24]. - Thay đổi đòng chảy ở các hệ thống sông trên thế giới do thay đổi lượng mưa hoặc do tăng nhu cầu sử dụng nước sông cho phát triển KT - XH [24] - Sự gia tăng mực nước biên trung bình toàn cầu do sự ấm lên trên toàn : trung bình là I,8 mm/năm (1,3 - 2,3 mm/năm) thời kỳ 1961 - 2003, và 3,1 mm/năm (2,4 - 3,8 mm/năm) trong thời kỳ 1993 - 2003 [47] * Tác động của BĐKH toàn cầu Các quan sát được về mặt vật lý, sinh học và mối quan hệ giữa các quan sát được với những thay đổi khí hậu khu vực từ năm 1970 đến nay cho thấy, nhiều hệ thống tự nhiên đang bị ảnh hưởng bởi BĐKH toàn cầu, đặc biệt là sự gia tăng nhiệt độ không khí: ~ Thay đổi ở vùng cực (băng, tuyết và tầng đất đóng băng vĩnh cửu): sự mở rộng và gia tăng số lượng các hồ băng; sự bất ôn trong tầng đất đóng băng, vĩnh cửu và lở tuyết ở vùng núi; sự thay đôi trong các quần xã và động vật ăn thịt cấp cao trong chuỗi thức ăn hệ sinh thái ở Bắc Cực và Nam Cực [19] - Thay đổi ở vùng ôn đới: gia tăng dòng chảy sông do tan băng; sự ấm.
lên của nước hỗ, sông; mùa xuân đến sớm hơn do sự ấm lên toàn cầu; tăng độ phong phú của tảo, sinh vật phù du và cá ở đại dương vĩ độ cao; sự di cư sớm hơn của cá vào sông. Trong đại dương và trên đất liền, độ che phủ tuyết và băng biển Bắc bán cầu đã mỏng hơn, mùa đông lạnh và ngắn hơn, sông bang tan chảy, nếp gấp ở tầng đất đóng băng vĩnh cửu và sự gia tăng mực nước biển [19].000 dữ liệu quan sát của 75 công trình nghiên cứu trên thế giới về các hệ thống vật lý và sinh học cho thấy rằng 89% dữ liệu quan sát được xác định mối liên hệ giữa BĐKH với sự thay đôi lớn trong hệ thống vật ý và sinh học trên trái đất [19]. Tình hình nghiên cứu BĐKH ở Việt Nam Nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành từ những thập. niên 90 của thế kỷ XX.
Năm 1992, các nhà khoa học đã thực hiện và công bố báo cáo “BĐKH và tác động của chúng ở Việt Nam”. Về BĐKH, ở Việt Nam đến nay đã có nhiều công trình được công bố như các công trình của Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Trọng Hiệu (1991), Nguyễn Đức Ngữ và cộng sự (2008). Liên quan đến vấn đề thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực tài nguyên nước và phòng chống thiên tai lũ lụt trong các công bố của Trần Thục (2001), Trần Hồng Thái (2009), Nguyễn Thanh Sơn (2011). Từ năm 1994 - 1998, Nguyễn Đức Ngữ và cộng sự đã hoàn thành kiểm kê quốc gia KNK đến năm 1993, xây dựng các phương án giảm KNK ở Việt Nam, đánh giá tác động của BĐKH đến các lĩnh vực KT - XH, xây dựng kịch bản BĐKH ở Việt Nam cho các năm 2020, 2050, 2070 [18].
Bộ Tài Nguyên và Môi trường phát hành công văn số 3815/BTNMT - KTTVBĐKH ngày 13 tháng 10 năm 2009 về. “KJưng hướng dẫn xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu”. Kể từ đó, nhiều hoạt động nghiên cứu, ứng dụng đã được triển khai. Một số cơ quan, ban, ngành chuyên phụ trách về vấn đề BĐKH cũng đã được thành lập nhằm nang cao nhận thức cho cộng đồng về BĐKH và tác động của nó.
Nhiều dự án do nước ngoài tài trợ đã được triển khai nhằm đánh giá tác động của BĐKH và tăng cường năng lực, tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước những tác động của BDKH [9]. Va dang chú ý trong thời gian này phải kể đến những nghiên cứu của Trương Quang Học theo hướng tiếp cận xuyên ngành trong ứng phó với BDKH va phát triển bền vững - một vấn đề mang tính liên ngành trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay [17] [18]. Qua kết quả tông hợp nêu trên cho thấy, ở Việt Nam bước đầu đã có những nghiên cứu về vấn đề BĐKH. * Những biểu hiện của BĐKH ở Việt Nam "Nhiệt độ không khí: Từ năm 1960, nhiệt độ không khí trung bình năm đã tăng từ 0,5°C - 0,7°C [9], tốc độ tăng xảy ra nhanh hơn vào mùa khô (tháng.
11 - 4) và nhiều hơn ở phía Nam của đất nước [52]. Nhiệt độ không khí trung. bình năm ở Hà Nội, Đà Nẵng và thành phó Hồ Chí Minh của thập kỷ 1991 - 2000 đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,§°C; 0,4°C và 0,6°C [9]. Số ngày “nóng” và đêm “nóng” trong mỗi mùa đều đã tăng lên kể từ năm 1960 đến nay, đặc biệt là tăng số ngày “nóng” vào giữa tháng 9 và 11 và tăng số đêm “nóng” trong thời gian từ tháng 6 đến tháng § [56].
Tần số ngày và đêm “lạnh” trong năm đã giảm đáng kể đặc biệt giảm mạnh nhất trong thời gian từ tháng 12 đến tháng 2 [50] Lượng mưa: Trong 9 thập kỷ vừa qua, biến đôi lượng mưa không theo quy luật rõ ràng: lượng mưa tăng giảm khác nhau giữa các mùa mưa trong các năm; lượng mưa năm cũng tăng giảm thất thường giữa các năm trong các thập kỷ. Nhìn chung, lượng mưa có xu hướng tăng ở các tỉnh phía Bắc và giảm ở các tỉnh phía Nam trong 9 thập kỷ qua; tổng lượng mưa trung bình năm trong 50 năm qua đã giảm khoảng 2% [9]. Không khí lạnh: Giảm tông số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới nước. ta trong 2 thập kỷ vừa qua nhưng lại xuất hiện một số đợt không khí lạnh kéo đài gây rét đậm, rét hại như đợt không khí lạnh kéo dài 3§ ngày trong các tháng | va 2 năm 2008 [9] Bão: Quỹ đạo của bão đang dịch chuyển dần vào phía Nam và xuất hiện nhiều cơn bao di thường [55] và có cường độ rất mạnh [9].