Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn giữ vị trí thiết yếu trong nền nông nghiệp Việt Nam, không chỉ cung ứng nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng cho xã hội mà còn cung cấp lượng phân bón đáng kể cho trồng trọt và phụ phẩm cho công nghiệp chế biến. Nhằm nâng cao giá trị kinh tế trong chăn nuôi, việc tuyển chọn giống và hoàn thiện quy trình nuôi dưỡng đàn giống bố mẹ là yếu tố quyết định. Trong những năm gần đây, xu hướng nhân giống và chăn nuôi lợn rừng cùng các tổ hợp lai của lợn rừng phát triển mạnh tại các vùng trung du và miền núi. Lợn rừng lai đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thực phẩm sạch, thịt thơm ngon, ít mỡ, chi phí chuồng trại thấp, sử dụng tốt các nguồn thức ăn thô xanh và mang lại giá trị thương phẩm cao hơn từ 1,5 đến 2,0 lần so với các giống lợn địa phương.

Song song đó, giống lợn Meishan (Trung Quốc) nổi tiếng thế giới về khả năng sinh sản vượt trội, thành thục tính dục sớm và tỷ lệ sống của phôi cao. Giống lợn này được nhập vào Việt Nam từ năm 1995 thông qua công ty giống PIC (Anh Quốc) để tạo ra các tổ hợp lai cao sản. Việc kết hợp giữa lợn đực rừng với lợn nái Meishan nhằm khai thác ưu thế lai về sức sống, khả năng thích nghi và sức sản xuất sinh sản là một hướng đi thực tiễn. Đề tài "Đánh giá sức sản xuất của lợn nái lai F1 (Đực rừng x nái Meishan) ở lứa đẻ thứ 4" được sinh viên Lê Văn Đạt thực hiện nhằm bổ sung nguồn dẫn liệu khoa học về khả năng sinh sản của tổ hợp lai này ở giai đoạn thành thục sinh lý ổn định.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Đánh giá sức sản xuất của đàn lợn nái lai F1 (Đực rừng x Meishan) ở lứa đẻ thứ 4 thông qua các chỉ tiêu về số con sinh ra, tỷ lệ nuôi sống và tốc độ sinh trưởng tích lũy của đàn con lai F2.
  2. Xác định các chỉ tiêu tiêu tốn và chi phí thức ăn cho một kilôgam lợn con ở thời điểm cai sữa và giai đoạn từ cai sữa đến 56 ngày tuổi để đánh giá hiệu quả kinh tế.
  3. Thực hiện công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở: trực tiếp tham gia quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái chửa, nái đẻ, nái nuôi con, lợn con sau cai sữa; thực hiện công tác vệ sinh thú y, tiêm phòng vắc xin và chẩn đoán điều trị các bệnh truyền nhiễm, nội khoa thường gặp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái lai F1 (Đực rừng x Meishan) ở lứa đẻ thứ 4 và đàn con lai F2 {Đực rừng x F1 (Đực rừng x Meishan)}.
  • Phạm vi nội dung: Khả năng sinh sản, tỷ lệ nuôi sống của đàn con qua các mốc tuổi, sinh trưởng của con lai và hiệu quả sử dụng thức ăn.
  • Địa điểm nghiên cứu: Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa – Công ty Cổ phần Khai khoáng miền núi, đóng tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
  • Thời gian tiến hành: Từ ngày 18/05/2018 đến ngày 25/11/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên hệ thống lý thuyết di truyền học và sinh lý học gia súc. Về mặt di truyền, tác giả vận dụng lý thuyết ưu thế lai (Đặng Vũ Bình, 2000), khẳng định con lai giữa hai quần thể có khuynh hướng thể hiện sức sống cao hơn, khả năng thích ứng môi trường tốt hơn và sức sản xuất vượt trội so với trung bình của bố mẹ. Về mặt sinh lý sinh dục, khóa luận hệ thống hóa cơ sở giải phẫu hệ sinh dục lợn cái, sự phát triển của noãn bao, chu kỳ động dục bình quân 21 ngày (biến động 18-25 ngày) cùng sự biến thiên của các hormone sinh dục cái (oestrogen, progesterone, prolactin, LH, FSH) theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006). Thời điểm rụng trứng diễn ra sau khi có triệu chứng động dục đầu tiên khoảng 40-48 giờ và kéo dài 8-12 giờ; thời gian phối giống tối ưu được xác định ở cuối ngày thứ 2 đến đầu ngày thứ 3 của chu kỳ động dục khi lợn xuất hiện trạng thái "mê ì".

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các dẫn liệu về ảnh hưởng của dinh dưỡng (nhu cầu protein 15-19%, khoáng đa vi lượng Ca, P, Fe, Zn, Cu và các vitamin), mùa vụ, và quy luật lứa đẻ (Ian Gordon, 1997) chứng minh số con đẻ ra/lứa tăng dần từ lứa đẻ thứ 1 đến lứa đẻ thứ 4, duy trì cao ở lứa 3 đến lứa 5 và giảm dần sau lứa thứ 7.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo dõi trực tiếp kết hợp hồi cứu so sánh:

  • Bố trí thí nghiệm: Theo dõi trực tiếp 8 lợn nái lai F1 (Đực rừng x Meishan) ở lứa đẻ thứ 4 từ khi mang thai, đẻ, nuôi con đến khi con đạt 56 ngày tuổi. Đồng thời, thu thập số liệu lưu trữ của chính 8 cá thể nái này ở các lứa đẻ từ 1 đến 3 tại cơ sở để làm lô đối chứng so sánh.
  • Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng áp dụng thống nhất:
    • Nái chửa kỳ I (từ phối giống đến ngày 84): Khẩu phần gồm 0,6-0,8 kg thức ăn tinh và 1,0-2,0 kg thức ăn thô xanh/con/ngày.
    • Nái chửa kỳ II (ngày 85 đến trước đẻ 1 tuần): Khẩu phần tăng lên 1,0-1,2 kg thức ăn tinh và 1,0-2,0 kg thức ăn thô xanh/con/ngày. Thức ăn tinh (ngô, cám gạo/mỳ, đậu tương) được nấu chín hòa loãng trộn với thức ăn xanh băm nhỏ (thân chuối, cỏ voi).
    • Nái đẻ và nuôi con: Cho ăn 1,5-2,0 kg thức ăn tinh và 2,0-3,0 kg thức ăn xanh/con/ngày; bổ sung quả đu đủ nấu chín cho nái tiết sữa kém.
    • Chăm sóc lợn con: Tiêm bổ sung sắt bằng Prolongal (1 ml/con, chứa 200 mg Fe) và uống thuốc cầu trùng Hanzuril-25 (1 ml/con) lúc 3 ngày tuổi. Tập cho ăn sớm bằng thức ăn viên từ 14-16 ngày tuổi. Thực hiện cai sữa cho lợn con ở 35 ngày tuổi (dao động thực tế 35-42 ngày).
  • Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu:
    • Các chỉ tiêu sinh sản: Số con đẻ ra/lứa, số con còn sống giữ lại nuôi, số con sống đến 21 ngày, 35 ngày (cai sữa) và 56 ngày tuổi; tỷ lệ nuôi sống (%) tính theo công thức phần trăm số con sống trên số con đẻ ra còn sống.
    • Khối lượng qua các kỳ cân: Thực hiện cân lúc sơ sinh (đã lau khô, cắt rốn, bấm nanh, bấm tai), lúc 21 ngày tuổi, 35 ngày tuổi và 56 ngày tuổi vào cùng một thời điểm buổi sáng trước khi cho ăn, sử dụng cùng một chiếc cân.
    • Chỉ tiêu sinh trưởng:
      • Sinh trưởng tuyệt đối: $A = \frac{W_1 - W_0}{t_1 - t_0}$ (g/con/ngày), với $W_0, W_1$ là khối lượng ở thời điểm đầu $t_0$ và cuối $t_1$.
      • Sinh trưởng tương đối: $R(%) = \frac{W_1 - W_0}{\frac{W_1 + W_0}{2}} \times 100$.
    • Chỉ tiêu kinh tế thức ăn: Xác định lượng thức ăn tinh và thức ăn xanh tiêu tốn của lợn mẹ (chu kỳ chờ phối 8 ngày, chửa kỳ I 84 ngày, chửa kỳ II 30 ngày, nuôi con 35 ngày) và lợn con (từ 35 đến 56 ngày tuổi, 21 ngày). Đơn giá áp dụng: thức ăn tinh 8.000 đồng/kg, thức ăn xanh 1.000 đồng/kg.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý bằng các thuật toán thống kê sinh học trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện và cộng sự (2002), tính toán các tham số: số trung bình cộng ($\bar{X}$), độ lệch tiêu chuẩn ($S_x$), sai số trung bình mẫu ($m_x$) và hệ số biến dị ($Cv%$).

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật vai trò của ngành chăn nuôi lợn trong nền kinh tế quốc dân và tính cấp thiết của việc cải tạo giống. Việc đưa các nguồn gen mới như lợn rừng bản địa kết hợp với giống ngoại cao sản đẻ sai như lợn Meishan tạo ra hướng khai thác thịt đặc sản có giá trị kinh tế cao. Mục tiêu nghiên cứu được xác lập nhằm đánh giá toàn diện sức sản xuất của đàn nái lai F1 ở lứa đẻ thứ 4 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác giống và chuyển giao kỹ thuật nuôi dưỡng cho người chăn nuôi.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Nội dung chương tổng hợp cơ sở lý thuyết về ưu thế lai, sinh lý cơ quan sinh dục lợn nái, cơ chế rụng trứng, điều hòa nội tiết trong chu kỳ tính dục và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất sinh sản (giống, dinh dưỡng, mùa vụ, số trứng rụng, lứa đẻ, sự hiện diện của lợn đực giống). Phần tổng quan tài liệu trong nước điểm lại các mốc nghiên cứu: giống Meishan được du nhập vào Việt Nam từ năm 1995 qua PIC tạo dòng nái CA tại Tam Điệp; đề tài cấp Bộ giai đoạn 2007-2010 của Võ Văn Sự về nhân thuần lợn rừng Việt Nam, lợn rừng Thái Lan và con lai (tỷ lệ móc hàm đạt trên 87%); các thử nghiệm khảo sát tính thích nghi của lợn Meishan thuần của Trịnh Hồng Sơn (2012). Tổng quan quốc tế dẫn chứng các nghiên cứu của Haley (1995) về cơ chế di truyền tỷ lệ phôi sống cao của lợn Meishan và mô hình chăn nuôi lợn rừng tại Thái Lan. Cuối chương giới thiệu điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng của Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã xã Tức Tranh với quy mô 6 ha (0,35 ha nuôi lợn; 2,5 ha trồng cỏ; 2,0 ha cây ăn quả; 1,0 ha nuôi ngựa; 0,1 ha nuôi hươu; 0,05 ha nhà xưởng), nuôi giữ 253 con lợn (2 đực giống, 30 nái sinh sản, 5 nái hậu bị, còn lại là lợn con và lợn thịt), 28 con dê và 35 con ngựa bạch.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này quy định rõ đối tượng theo dõi gồm 8 lợn nái lai F1 (Đực rừng x Meishan) ở lứa đẻ thứ 4. Quy trình chăm sóc nái mang thai hai kỳ, nái đẻ, nuôi con và lợn con bú sữa được mô tả chi tiết kèm các định mức thức ăn tinh, thức ăn xanh và nhiệt độ chuồng nuôi (yêu cầu bổ sung 20% thức ăn tinh khi nhiệt độ dưới $15^\circ\text{C}$). Trình bày chi tiết phương pháp bấm nanh, tiêm sắt Prolongal, uống Hanzuril-25, cai sữa lúc 35 ngày tuổi và trộn thức ăn phòng bệnh (Colistin 1g/con/ngày trong 5 ngày đầu, HanFor 1g/con/ngày trong 5 ngày kế tiếp, B-complex 0,5g/con/ngày trong 10 ngày). Hệ thống hóa công thức tính sinh trưởng tuyệt đối, tương đối, công thức tính chi phí thức ăn và các công thức toán thống kê sinh học áp dụng để xử lý số liệu.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương chia làm hai nội dung chính:

  • Công tác phục vụ sản xuất: Sinh viên tham gia nuôi dưỡng 25 lợn nái chửa, đẻ, nuôi con và cai sữa 15 đàn (180 lợn con). Công tác thú y tiêm phòng vắc xin đạt 269 lượt Dịch tả (2 đực, 30 nái, 237 lợn con/thương phẩm), 237 liều Donoban 10, 32 liều PRRS, 237 liều Lepto, 32 liều LMLM, 32 liều Farrowsure B. Điều trị bệnh phân trắng lợn con (55 con, khỏi 50 con, đạt 90,90% bằng Trimoxazol, nước lá khổ sâm kết hợp Hanceft); bệnh tiêu chảy (32 con, khỏi 27 con, đạt 84,38% bằng Hanceft); bệnh hô hấp (25 con, khỏi 23 con, đạt 92,00% bằng Pneumotic + Kanatialin hoặc Hanflo LA); bệnh ký sinh trùng (7 con, khỏi 100% bằng Hanmectin).
  • Chuyên đề nghiên cứu sức sản xuất: Đánh giá số con đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng qua các giai đoạn sơ sinh, 21 ngày, 35 ngày (cai sữa) và 56 ngày tuổi giữa lứa 4 và các lứa 1-3.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về các chỉ tiêu năng suất sinh sản và khả năng sinh trưởng của đàn lợn con lai F2 qua các kỳ cân, được tổng hợp trong bảng so sánh sau:

STT Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị Lứa đẻ thứ 4 (n = 8) Lứa đẻ 1 - 3 (n = 8) So sánh lứa 4 với lứa 1-3
1 Số lợn con đẻ ra/lứa con 8,63 ± 2,88 7,58 ± 2,48 Tăng 1,05 con/lứa
2 Số lợn con còn sống để nuôi con 8,25 ± 2,38 7,57 ± 2,46 Tăng 0,68 con/lứa
3 Số con sống đến 21 ngày con 7,75 ± 2,38 7,30 ± 2,29 Tăng 0,45 con/lứa
4 Số con sống đến cai sữa (35 ngày) con 7,63 ± 2,20 7,09 ± 2,17 Tăng 0,54 con/lứa
5 Số con sống đến 56 ngày tuổi con 7,50 ± 2,07 7,00 ± 2,22 Đạt 107,14%
6 Tổng số lợn con đẻ ra theo dõi con 69 182 -
7 Tổng số lợn con giữ lại nuôi con 66 174 -
8 Tỷ lệ sống sơ sinh chọn nuôi % 95,65 95,60 Tăng 0,05%
9 Tỷ lệ nuôi sống đến 21 ngày % 93,94 96,55 Giảm 2,61%
10 Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa % 92,42 93,68 Giảm 1,26%
11 Tỷ lệ nuôi sống đến 56 ngày % 90,91 92,53 Giảm 1,62%
12 Khối lượng sơ sinh kg/con 0,98 ± 0,12 0,96 ± 0,14 P ≥ 0,05
13 Khối lượng lúc 21 ngày tuổi kg/con 2,55 ± 0,47 2,45 ± 0,45 Tăng 0,10 kg/con
14 Khối lượng lúc cai sữa (35 ngày) kg/con 3,67 ± 0,49 3,53 ± 0,49 Tăng 0,14 kg/con
15 Khối lượng lúc 56 ngày tuổi kg/con 4,80 ± 0,54 4,61 ± 0,23 Đạt 104,09% (P ≥ 0,05)

Dữ liệu thực nghiệm phản ánh các kết quả chính:

  • Về năng suất sinh sản: Lợn nái lai F1 (Đực rừng x Meishan) ở lứa đẻ thứ 4 có năng suất sinh sản cao hơn các lứa đẻ trước đó. Số con đẻ ra/lứa đạt 8,63 con so với 7,58 con ở lứa 1-3. Số con nuôi sống đến 56 ngày tuổi đạt 7,50 con/lứa, tương đương 107,14% so với lứa 1-3 (7,00 con/lứa). Mặc dù tỷ lệ nuôi sống đến 56 ngày của lứa 4 (90,91%) thấp hơn một ít so với trung bình các lứa 1-3 (92,53%), nhưng tổng số con cai sữa và xuất bán thực tế trên mỗi lứa vẫn cao hơn do số con sơ sinh ban đầu lớn hơn.
  • Về sinh trưởng tích lũy: Khối lượng của đàn con lai F2 ở lứa đẻ thứ 4 cao hơn lứa 1-3 ở mọi kỳ cân (sơ sinh: 0,98 kg so với 0,96 kg; cai sữa 35 ngày: 3,67 kg so với 3,53 kg; 56 ngày tuổi: 4,80 kg so với 4,61 kg, đạt 104,09%). Tuy nhiên, các phân tích thống kê sinh học cho thấy sự sai khác về khối lượng giữa hai nhóm lứa đẻ không có ý nghĩa thống kê ($P \ge 0,05$).
  • Giải pháp kỹ thuật và đóng góp: Tác giả đã chứng minh hiệu quả của quy trình can thiệp dinh dưỡng kết hợp thảo dược (nước lá khổ sâm, hoàn ngọc) và phác đồ kháng sinh trong phòng trị bệnh đường ruột cho lợn con lai F2, kiểm soát tỷ lệ nuôi sống đến 56 ngày tuổi luôn đạt trên 90%. Kết quả này bổ sung nguồn dẫn liệu thực tiễn về khả năng sản xuất của tổ hợp nái lai F1 (Rừng x Meishan) nuôi trong điều kiện bán hoang dã tại vùng miền núi phía Bắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số điểm hạn chế do điều kiện thực hiện:

  • Dung lượng mẫu theo dõi trực tiếp còn hạn chế (8 cá thể nái lai ở lứa đẻ thứ 4); số liệu đối chứng ở lứa đẻ 1-3 phải dựa trên nguồn dữ liệu hồi cứu lưu trữ tại cơ sở chăn nuôi, dẫn đến việc kiểm soát các sai số ngẫu nhiên giữa các thời kỳ nuôi dưỡng chưa hoàn toàn đồng nhất.
  • Sự sai khác về khối lượng cơ thể của lợn con F2 qua các kỳ cân giữa lứa 4 và các lứa 1-3 chưa đạt mức ý nghĩa thống kê ($P \ge 0,05$).
  • Điều kiện địa bàn nghiên cứu tại xã Tức Tranh thuộc vùng trung du miền núi, giao thông chưa bê tông hóa hoàn chỉnh gây khó khăn cho việc đi lại và quản lý sản xuất; công tác tiêm phòng và vệ sinh thú y của các hộ dân xung quanh trại chưa triệt để, tiềm ẩn nguy cơ áp lực dịch bệnh từ môi trường ngoài.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần tiếp tục theo dõi sức sản xuất của đàn nái lai F1 này ở các lứa đẻ tiếp theo (từ lứa 5 đến lứa 7 và lứa 8) để xác định chính xác thời điểm năng suất sinh sản bắt đầu suy giảm theo quy luật sinh học; đồng thời mở rộng nghiên cứu các chỉ tiêu chất lượng thịt xẻ và tỷ lệ móc hàm của đàn con lai F2 nuôi thịt thương phẩm.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y và Chăn nuôi Thú y học tập phương pháp bố trí thí nghiệm khảo sát sức sản xuất vật nuôi, các công thức toán sinh học xử lý số liệu ($A$, $R$, $\bar{X}$, $S_x$, $m_x$, $Cv%$).
  • Kỹ thuật viên và người chăn nuôi lợn rừng lai tại các vùng trung du, miền núi tham khảo quy trình phối trộn thức ăn tận dụng nguồn thô xanh (thân chuối, cỏ voi), quy trình tập ăn sớm cho lợn con bằng thức ăn viên từ 14-16 ngày tuổi và kỹ thuật ghép đàn sau cai sữa bằng dầu gió để tránh cắn nhau.
  • Các cơ sở nghiên cứu và trang trại giống tham khảo phác đồ phối hợp thảo dược địa phương (khổ sâm, hoàn ngọc) với kháng sinh (Trimoxazol, Hanceft) trong việc kiểm soát hiệu quả bệnh tiêu chảy và phân trắng lợn con.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nghiên cứu lại tập trung đánh giá sức sản xuất của lợn nái lai ở lứa đẻ thứ 4?
Theo các nghiên cứu về sinh lý sinh sản lợn nái (đặc biệt là công trình của Ian Gordon, 1997), số lượng con đẻ ra trên một ổ tăng dần từ lứa thứ 1 đến lứa thứ 4, đạt đỉnh cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4, 5 và bắt đầu giảm dần từ lứa thứ 7. Do đó, lứa đẻ thứ 4 là thời điểm phản ánh đầy đủ nhất tiềm năng sức sản xuất tối ưu của lợn nái sau khi cơ thể đã thành thục hoàn toàn về thể vóc và chức năng sinh dục.

2. Năng suất sinh sản của lợn nái F1 lứa thứ 4 có điểm gì nổi trội so với các lứa trước?
Ở lứa đẻ thứ 4, số lợn con đẻ ra trung bình đạt 8,63 con/lứa (lứa 1-3 là 7,58 con/lứa); số con sống giữ lại nuôi đạt 8,25 con/lứa (lứa 1-3 là 7,57 con/lứa); số con nuôi sống đến 56 ngày tuổi đạt 7,50 con/lứa, cao hơn 7,14% so với trung bình các lứa 1-3 (7,00 con/lứa).

3. Khối lượng sinh trưởng của đàn con lai F2 giữa lứa đẻ thứ 4 và các lứa trước có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê không?
Dù khối lượng lợn con ở lứa đẻ thứ 4 tại các mốc sơ sinh (0,98 kg), 21 ngày tuổi (2,55 kg), cai sữa 35 ngày (3,67 kg) và 56 ngày tuổi (4,80 kg) đều cao hơn lứa 1-3 (lần lượt là 0,96 kg; 2,45 kg; 3,53 kg và 4,61 kg), nhưng các phân tích phương sai sinh học chỉ ra rằng giá trị $P \ge 0,05$. Điều này khẳng định sự sai khác về khối lượng tích lũy giữa hai lô nghiên cứu chưa có ý nghĩa thống kê.

4. Cơ sở thực tập sử dụng phác đồ nào để điều trị bệnh lợn con phân trắng đạt tỷ lệ khỏi 90,90%?
Phác đồ điều trị gồm: Buổi sáng cho uống viên nén Trimoxazol (2 viên/con) hòa trong 3-5 ml dịch chiết nước lá khổ sâm, kết hợp tiêm bắp Hanceft (1 ml/10 kg thể trọng/ngày); buổi chiều cho uống viên Chlorocid (2 viên/con) hòa dịch chiết lá khổ sâm. Liệu trình điều trị liên tục từ 3 đến 5 ngày. Đã điều trị 55 con, khỏi 50 con.

5. Lịch tiêm phòng định kỳ cho đàn lợn con tại trại được thiết lập theo các mốc tuổi nào?
Lợn con được tiêm vắc xin Dịch tả mũi 1 lúc 21 ngày tuổi; tiêm vắc xin PRRS lúc 35 ngày tuổi; vắc xin Lở mồm long móng (FMD) mũi 1 lúc 42 ngày tuổi; vắc xin Dịch tả mũi 2 lúc 52 ngày tuổi; tẩy giun sán lúc 65 ngày tuổi; vắc xin FMD mũi 2 lúc 70 ngày tuổi; và tiêm vắc xin Lepto mũi 1 lúc 85 ngày tuổi, mũi 2 lúc 90 ngày tuổi.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Văn Đạt đã hoàn thành việc đánh giá các chỉ tiêu sức sản xuất của đàn lợn nái lai F1 (Đực rừng x Meishan) ở lứa đẻ thứ 4 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả cho thấy lợn nái lai ở lứa đẻ thứ 4 thể hiện năng suất sinh sản vượt trội so với trung bình các lứa đẻ 1-3 với số con đẻ ra/lứa đạt 8,63 con và số con nuôi sống đến 56 ngày tuổi đạt 7,50 con/lứa. Tỷ lệ nuôi sống của đàn con lai F2 luôn duy trì ở mức cao trên 90,91% nhờ áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng chuẩn hóa và phác đồ thú y kết hợp thảo dược hiệu quả. Công trình cung cấp nguồn số liệu thực nghiệm giá trị, khẳng định tính khả thi của việc khai thác đàn nái lai F1 (Đực rừng x Meishan) trong mô hình chăn nuôi lợn rừng thương phẩm tại địa phương.