CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TONG QUAN ĐÈ TÀI Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 được bắt nguồn từ sự vỡ nợ của các Ngân hàng Mỹ, Stress Testing (đánh giá sức chịu đựng rủi ro) trở nên được quan tâm hơn bao giờ hết. Cùng với đó, Ngân hàng trung ương Mỹ và Cơ quan Ngân hàng Châu Âu đã bắt đầu yêu cầu các ngân hàng có vai trò quan trọng thực hiện Stress Testing hàng năm nhằm đánh giá mức độ an toàn của hệ thông. Tại Việt Nam, ST cũng đã thu hút sự quan tâm cua các chuyên gia nghiên cứu trong những năm gần đây đặc biệt là trong những thời điểm hệ thống ngân hàng thương mại đối mặt với nhiều rủi ro như khi GDP Việt Nam tăng trưởng thấp, lạm phát cao, nợ xấu báo động.
Các bài viết được công bồ tại Việt Nam lúc bay giờ mới chi tập trung mô tả phân tích ST như một công cu giám sát sự an toàn của ngành ngân hàng như: Tác giả Dương Quốc Anh (Chủ nhiệm đề tài, 2012) trong đề tài “Phương pháp luận đánh giá sức chịu đựng của tổ chức tín dụng trước các cú sốc trên thị trường tài chính (Stress Testing)” đã tong hợp những khái niệm co bản, những hiểu biết chung về Kiểm tra sức chịu đựng, trình bày các kỹ thuật kiểm tra sức chịu đựng theo từng loại rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản, rủi ro lan truyền) _ˆvà ứng dụng của nó trong quản lý và kiểm soát rủi ro, những kỹ thuật và cách tiếp cận phố biến, quy trình thực hiện. bên cạnh đó đề tài cũng đưa ra những kiến nghị cụ thé dé NHNN có thé vận dung công cụ ST dé nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát ngân hàng. Đề tài “Đánh giá sức chịu đựng của các ngân hàng thương mại lớn ở Việt Nam” của Phùng Đức Quyền (2013) với lĩnh vực nghiên cứu thực nghiệm chứng minh sức chịu đựng của một sô ngân hàng Việt Nam trước cú sốc bat lợi tại thời điểm cuối năm 2012 là rất yếu. Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Thụy Bích Trâm (2014) sử dụng kỹ thuật VECM đề mô phỏng kịch bản cú sốc kinh tế vĩ mô và phân tích độ nhạy của NPLs khi chịu ảnh hưởng của tăng trưởng GDP, tăng trưởng tín dụng, biến động lãi suất cơ bản cho thay nêu xảy ra rủi ro với 1% xác suất thì tổng giá trị trích lập dự phòng của các ngân hang không đủ đề chống đỡ tôn that.
CAC KHÁI NIỆM VE RỦI RO THANH KHOẢN 1. Thanh khoản Khái niệm Xét về góc độngân hàng thì thanh khoản có thê được định nghĩa là khả năng đáp ứng các yêu cầu về vốn khả dụng của mình, nó được thể hiện trong nguồn cung và nhu câu thanh khoản. Một nguồn vốn được coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Mặt khác, một tài sản được cho là có tính thanh 1 11174857 — Ngô Huyền Trang Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế khoản cao khi chi phí chuyên hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyên hóa ra tiên nhanh.
Vai trò của thanh khoản tại ngân hàng thương mại Thanh khoản đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Chỉ cân khả năng thanh khoản của một ngân hàng có vấn đề thì nó sẽ nhanh chóng lan rộng và tạo ra các cuộc khủng hoảng. Mọi người sẽ 6 ạt rút tiền tại ngân hàng mắt thanh khoản và kéo theo tình trạng tương tự ở các ngân hàng khác. Và tất nhiên nó sẽ làm ảnh hưởng đến hệ thống tài chính quốc gia, đến mọi lĩnh vực trong xã hội từ thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cho đến thị trường lao động, ảnh hưởng đến tiền gửi của người dân lẫn tình hình tín dụng cho nền kinh tế.
Do vậy thanh khoản trong hệ thông ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển ôn định và lâu dai của một quốc gia. Rủi ro thanh khoản Khái niệm Rủi ro thanh khoản có thé được hiểu là rủi ro khi ngân hàng không dự trữ đủ tiên đê đáp ứng nhu câu rút tiên của khách hàng. Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản Nguyên nhân gây rủi ro thanh khoản có thể đến từ bên tài sản nợ hoặc tài sản có, hoặc cũng có thê từ hoạt động ngoại bảng của BCDKT của ngân hàng (Valla và Escorbiac, 2006). Trong lĩnh vực tài chính, có hai nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro thanh khoản: Do ngân hàng vay mượn quá nhiều: rủi ro thanh khoản trongtrường hợp này được hiểu là nguồn lợi nhuận thu về từ các khoản đầu tư không thể cân bằng được với số tiền phải bỏ ra để chỉ trả các khoản tiền lãi phát sinh từ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng.
Khi nhận được các khoản tiền gỬI |tiết kiệm từ các cá nhân, ngân hàng sẽ sử dụng nguồn tiền này để đầu tư có hạn dẫn đến tình trạng mắt cân băng về thời gian giữa sử dụng vốn và nguồn vốn. Do lãi suất thay đôi: lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến khách hàng gửi tiết kiệm hoặc khách hàng vay vốn. Khi lãi suất tiết kiệm giảm, khách hàng sẽ rút tiền để đầu tư vào các nơi khác có lợi nhuận tốt hơn. Hoặc khi lãi suất _vay tăng lên thì khách hàng vay vốn sẽ lựa chọn những đơn vị khác có lãi suất thấp hơn.
Phân loại rủi ro thanh khoản Do rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ bên tài sản Có hoặc bên tài sản Nợ của BCDKT nên người ta thường phân thành hai loại rủi ro thanh khoản là rủi ro thanh khoản thị trường và rủi ro thanh khoản huy động vôn. Rui ro thanh khoản thị trường là rủi ro khi ngân hang không thé hoặc gặp khó khăn trong việc chuyên đổi hay bán tài sản của mình thành tiền mặt. 11174857 — Ngô Huyền Trang Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế Rủi ro thanh khoản huy động vốn là rủi ro khi ngân hàng không thê huy động thêm vốn đề phục vụ cho các hoạt động phát sinh dòng tiền ra. Điều này có thê xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau như danh tiếng.
của ngân hàng giảm sút, thị trường liên ngân hàng “ong băng, các ngân hàng mat niềm tin cho vay lẫn nhau, Sự cô rút tiền hàng loạt,. Kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản Kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản là kỹ thuật được sử dụng nhằm xem xét liệu các tổ chức tài chính có đủ dòng tiền mặt và tài sản lưu động dé đảm bảo nhu cầu thanh khoản trong một kịch bản căng thăng cho trước hay không. STRESS - TEST Khái niệm Kiểm tra sức chịu đựng (Stress test) được sử dụng nhằm mô tả các kỹ thuật đánh giá mức độ tôn thương của một hệ thông hay một tô chức do những thay đôi của các yêu tô môi trường kinh tê vĩ mô hoặc do tác động của những sự kiện có tính chat ngoại lệ và bat thường (extreme) nhưng có khả năng xảy ra (plausible) (Basel Committee on Banking Supervision, 2009). Vai trò Stress test được cho rằng là có khả năng ứng dụng rất cao: Nam bắt được các tác động lên ngân hàng khi các sự kiện không thường xuyên xảy ra và gây nên tôn thất lớn Chúng ta có thé đưa các biến động bat ngờ có kha năng xảy ra trong quá khứ đê dự đoán các thay đôi đột ngột sẽ xuât hiện trong tương lai thông qua Stress test Hình 1: ST thực hiện cho các hoàn cảnh cực độ nhưng có khả năng xảy ra Stress tests capturing exceptional but plausible events Fisk captured by VaR Low probabiity (man nsk analyse) wih events captured a cerlan hypothessed by “stress tests” probability Nguồn: https://images.gl/cnw4kJEginLpMJw9A 11174857 — Ngô Huyền Trang Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế Xác định và kiêm soát rủi ro Với phương pháp kiểm tra độ nhạy chúng ta có thể tính toán được mức độ nhạy cảm của từng khoản mục ứng với mỗi rủi ro cụ thé.
Từ đó sẽ xem xét tông thé rủi ro và tác động tổng hợp cua chúng bởi các tác động riêng rẽ có thê không đáng kế nhưng tác động tổng hợp của chúng có thê gây ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống ngân hàng. Hơn thế nữa nó còn cho các ngân hàng thấy được các vị thế có khả năng bù trừ lẫn nhau nhằm đưa ra các biện pháp giải quyết có hiệu quả. Đánh giá rủi ro của ngân hàng Công cụ ST có thê đưa các kế hoạch riêng của ngân hàng vào mô hình kiêm định. Ở một số nơi ST được xem như một khung nền, nó không chỉ bao gồm sự thay đôi giá trị của các khoản mục trong và ngoài báo cáo tài chính của ngân hàng mà còn xem xét đến các tác động có nguồn gốc từ các khoản doanh thu trong tương lai, giúp cho các nhà quản lý có thé đưa ra quyết định khi phải đối diện với các sự kiện không mong muôn.
Đưa ra quyết định về mức độ chịu đựng rủi ro và phân bô nguon lực Từ các kết quả được tính toán về mức độ thiệt hại có thé có trong tương lai, các nhà quản lý câp cao sẽ dùng làm cơ sở đưa ra mức độ chịu đựng rủi ro của từng bộ phận. Sau đó chúng được liên kết lại và đưa ra quyết định phân bổ nguồn lực một cách tốt nhất cho toàn ngân hàng. Phân loại Stress — Test Phân loại theo kêt quả tác động Khi một ngân hàng chịuphải một biến có thì hậu quả do biến cé đó gây ra thường sẽ tác động vào hai yếu tố đó là vốn và thanh khoản, do đó kết quả thực hiện ST thường được thể hiện ở hai hình thức: mức độ tdc động vào vốn hoặc mức độ tac động vào khả năng thanh khoản. ST về vốn: là phương thức kiểm tra nhằm mục đích đánh giá khả năng một ngân hàng có thể duy trì ở trạng thái bình thường (không đồ vỡ, phá sản) đưới tác động của những cú sôc về vốn.
Kết quả đo lường được phản ánh là mức biến động của các tỷ số tài chính như tỷ lệ an toàn vốn (CAR), mức độ tổn thất, chất lượng tài sản tại ngân hàng. ST thanh khoản: nhằm mục đích đánh giá khả năng duy trì thanh toán của ngân hàng. Phương pháp phân loại độ nhạy và phương pháp phân tích kịch bản Dé tạo được sự kiện mang tính chat “cực độ nhưng vẫn có kha năng xảy ra”, người thực hiện ST thường đưa ra hai dạng sự kiện: sự kiện có một yêu tố gây ra rủi ro biến động và sự kiện có nhiều yếu tố gây ra rủi ro biến động đồng thời.