ĐẶT VẤN ĐỀ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu, thành phần quan trọng của môi trƣờng sống. Có thể nói, đất đai là tƣ liệu chính của ngành Nông_Lâm nghiệp. Tuy nhiên, trong vài thập kỉ gần đây, cùng với sự gia tăng dân số, đẩy mạnh khai thác khoáng sản, sự phát triển của ngành nông nghiệp…đất đai đang đƣợc sử dụng ở mức độ cao, có nơi còn chƣa hợp lý. Việc khai thác Nông_Lâm nghiệp không có ý thức ngày càng làm cho quá trình xói mòn đất xảy ra nghiêm trọng, độ phì nhiêu ngày càng giảm, nhiều nơi trở nên trơ sỏi đá, đất trống, đồi núi trọc (Hoàng Tiến Hà, 2009).
Dòng chảy mặt thƣờng phát sinh khi cƣờng độ mƣa lớn hơn cƣờng độ thấm. Mặt khác, khi dòng chảy mặt xuất hiện thƣờng kéo theo xói mòn đất, vì thế quá trình phát sinh dòng chảy mặt có những ảnh hƣởng nhất định tới lƣợng đất xói mòn. Trong đó, xói mòn đất đƣợc hiểu là sự mang đi của các lớp đất mặt do nƣớc chảy, tuyết tan hoặc các tác nhân địa chất khác, bao gồm các quá trình sạt lở do trọng lực (Rattan Lal, 1990). Chính vì vậy mà nghiên cứu quá trình phát sinh dòng chảy chính là một cách để tìm ra biện pháp bảo vệ đất, chống xói mòn đất.
Quá trình phát sinh dòng chảy mặt và xói mòn đất là quá trình phức tạp, thƣờng phụ thuộc vào các đặc điểm của địa hình, mƣa, đất và thảm thực vật. Nhƣ chúng ta đã biết, thảm thực vật đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bề mặt đất, giảm dòng chảy bề mặt và nguy cơ xói mòn đất. Tùy theo từng loại cây mà nó đóng góp vai trò khác nhau trong quá trình bảo vệ đất và ngăn chặn xói mòn. Có một vài đề tài nghiên cứu trƣớc đó cũng đã nhận ra điều này và tiến hành nghiên cứu trên một số loại thảm thực vật.
Nhƣng chƣa có nghiên cứu nào tiến hành nghiên cứu tại khu vực đồi chè. Tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên là 3. Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi phía Bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lƣu kinh tế - xã hội giữa vùng 1 trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Việc giao lƣu đã đƣợc thực hiện thông qua hệ thống đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút.
Thái Nguyên là vùng đất có điều kiện tự nhiên rất thích hợp để phát triển cây chè. Chè Thái Nguyên, đặc biệt là chè Tân Cƣơng là đặc sản từ lâu đã là sản phẩm nổi tiếng không chỉ ở trong nƣớc mà còn ở nƣớc ngoài. “Toàn tỉnh hiện có 15.000 ha chè (đứng thứ 2 cả nƣớc sau Lâm Đồng), trong đó có trên 12.000 ha chè kinh doanh, hàng năm cho sản lƣợng khoảng trên 70. Tỉnh Thái Nguyên đã đặt ra những mục tiêu cao hơn nữa cho việc nâng cao năng suất cây Chè, chứng minh tầm quan trọng của việc phát triển cây Chè tại tỉnh trong tƣơng lai.
Cây Chè có tên khoa học là Camellia sinensis thuộc họ Chè (Theaceae) đƣợc xem là cây trồng mang lại kinh tế chính cho rất nhiều hộ gia đình thuộc tỉnh Thái Nguyên. Trong tƣơng lai, nó còn tiếp tục giữ vai trò là loài cây công nghiệp đứng đầu trong sự phát triển ngành trồng trọt của tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, canh tác chè tác động ra sao đến môi trƣờng, đặc biệt là thành phần đất và nƣớc lại là vấn đề chƣa đƣợc làm sáng tỏ. Để đảm bảo sự phát triển bền vững cho các mô hình Chè ở Thái Nguyên nói riêng và cả nƣớc nói chung thì việc đánh giá tác động của mô hình canh tác Chè đến môi trƣờng đất nƣớc cần phải đƣợc quan tâm làm rõ.
Nhằm góp phần giải quyết những vấn đề trên, tôi quyết định chọn đề tài “Đánh giá sự phát sinh dòng chảy và lượng đất xói mòn từ mô hình canh tác Chè tại xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Xói mòn đất Xói mòn đất đƣợc nghiên cứu từ rất sớm, ngay từ thời trƣớc Công nguyên, nhà triết học cổ đại Platon đã nêu ra mối liên hệ giữa lũ lụt và xói mòn đất với việc tàn phá rừng.
Tuy nhiên, cho đến thời kì 1877 đến 1885, công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất và dòng chảy mới đƣợc thực hiện bởi nhà bác học Volni ngƣời Đức (Hundson, 1981). Các ô thí nghiệm đƣợc sử dụng để nghiên cứu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố tới dòng chảy và xói mòn đất nhƣ: thực bì, đất, lƣợng mƣa. Trong công trình này, Volni đã nghiên cứu ảnh hƣởng của loại đất và độ dốc mặt đất tới dòng chảy và xói mòn đất. Tuy nhiên, phần lớn các kết luận chƣa đƣợc định lƣợng một cách rõ ràng.
Bằng cách tiến hành các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, Ellsion (Hudson, 1981) thấy rằng, các loại đất khác nhau có biểu hiện khác nhau trong các pha của xói mòn đất do nƣớc. Ông cũng là ngƣời đầu tiên phát hiện ra vai trò của lớp phủ thực vật trong việc hạn chế xói mòn đất và vai trò cực kì quan trọng của hạt mƣa rơi đến xói mòn. Phát hiện của Ellsion đã mở ra một hƣớng mới trong việc nghiên cứu xói mòn đất, đã làm thay đổi quan điểm nghiên cứu về xói mòn và khẳng định khả năng bảo vệ đất của lớp thảm thực vật. Nó đã mở ra phƣơng hƣớng sử dụng cấu trúc thảm thực vật trong các biện pháp chống xói mòn nhằm bảo vệ độ phì của đất.
Từ đó, các nghiên cứu xói mòn bắt đầu chuyển sang nghiên cứu định lƣợng, xác định cơ chế xói mòn, các công thức toán học để mô phỏng quá trình xói mòn. Nhờ các phƣơng tiện hiện đại, ngƣời ta đã tiến hành nghiên cứu xói mòn không chỉ trong điều kiện tự nhiên mà cả trong điều kiện nhân tạo (mƣa nhân tạo, độ dốc nhân tạo, độ che phủ nhân tạo). Các nhà nghiên cứu nổi tiếng trong giai đoạn này là: Ellsion (Hudson, 1981), Delixop, Mikhevic (Zakharop, 1981), Wischmeier (1978), Kirkby M. Sau đó, phƣơng trình đƣợc W.H Wischmeier hoàn chỉnh dần.
Phƣơng trình mất đất đã làm sáng tỏ vai trò của từng nhân tố ảnh hƣởng đến xói mòn đất. Nó còn có tác dụng định hƣớng cho nhiều nghiên cứu nhằm xác định quy luận xói mòn và nghiên cứu các mô hình canh tác bền vững ở các khu vực có điều kiện địa lí khác nhau. Tuy nhiên, đòi hỏi phải có những nghiên cứu bổ sung để điều chỉnh các hệ số cho phù hợp với điều kiện địa lí, địa chất, thổ nhƣỡng, tập quán canh tác và đặc tính cây trồng ở từng địa phƣơng. Kết quả nghiên cứu của G.Fiebiger (1993) xác nhận rằng nguy cơ xói mòn đất dƣới tầng cây gỗ có thể tăng lên do giọt mƣa dƣới tán rừng có kích thƣớc lớn (G.
Những loài cây có phiến lá rộng thƣờng tạo ra các giọt nƣớc ngƣng đọng với kích thƣớc lớn, nên khi rơi từ tán lá xuống sẽ có sức công phá bề mặt đất lớn hơn so với sức công phá của giọt mƣa tự nhiên nơi đất trống. Những nghiên cứu khác cho thấy rằng cây bụi thảm tƣơi và vật rơi rụng có vai trò rất lớn trong việc hạn chế xói mòn đất. Nếu chúng bị phá trụi hoặc lấy đi khỏi tầng đất rừng thì tầng cây gỗ phía trên sẽ không có tác dụng giảm thiểu xói mòn trên sƣờn dốc. Vào năm 1958, Wishchmeier và Smith đã đƣa ra phƣơng trình mất đất phổ dụng (USLE), các yếu tố gây xói mòn đƣợc tổng hợp lại thành 7 yếu tố chính và biểu thị bằng phƣơng trình có dạng tổng quát : A = R.P Trong đó: A: Lƣợng đất xói mòn (tấn/acre/năm) R: Hệ số xói mòn đất do mƣa K: Hệ số xói mòn đất L: Hệ số độ dài (lƣợng đất mất trên thửa đất quan trắc so với trên thửa đất tiêu chuẩn dài 22.13m) 4 S: Hệ số độ dốc (lƣợng đất mất trên thửa đất quan trắc so với trên thửa đất tiêu chuẩn đƣợc làm đất theo tiêu chuẩn có độ dốc 9%).
C: Hệ số canh tác (lƣợng đất mất trên thửa đất quan trắc so với trên thửa đất tiêu chuẩn đƣợc làm đất theo tiêu chuẩn và bỏ hóa cách năm). P: Hệ số bảo vệ đất Phƣơng trình này đƣợc coi là phổ dụng vì nó tách ra khỏi những ảnh hƣởng mang tính chất địa phƣơng của các yếu tố gây xói mòn, vì vậy có thể áp dụng phƣơng trình này cho các vùng lãnh thổ khác nhau. Phƣơng trình USLE đƣợc dùng phổ biến trên thế giới để xác định hệ số an toàn về độ dốc, chiều dài dốc, hệ số cây trồng và canh tác, đánh giá và so sánh lƣợng đất xói mòn của các phƣơng thức sử dụng đất khác nhau và dự báo nguy cơ xói mòn đất cho vùng lãnh thổ nhất định. Tuy nhiên, sử dụng phƣơng trình mất đất phổ dụng vẫn gặp những khó khăn nhất định : + Điều kiện địa lý, địa chất khu vực có thể khác xa với điều kiện nơi xây dựng phƣơng trình.
Vì thế, khi áp dụng phải có các nghiên cứu điều chỉnh các hệ số sao cho phù hợp với điều kiến của từng địa phƣơng nghiên cứu. Quá trình này đòi hỏi rất nhiều thời gian, chi phí tốn kém, và không phải có thể tiến hành ở bất cứ nơi nào. + Tập quán canh tác của các dân tộc không giống nhau nên hệ số về phƣơng pháp quản lý và sử dụng đất không giống nhau. + Phƣơng trình xác định hệ số cho 128 kiểu cây trồng chủ yếu là nông nghiệp nên vẫn chƣa tính đến sự đa dạng của thảm thực vật.
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, phƣơng trình mất đất phổ dụng đƣợc cải tiến để trở nên đơn giản, áp dụng cho đất rừng và một số loại đất phi nông nghiệp đƣợc gọi là phƣơng trình mất đất biến đổi: A = R.MV Trong đó : A : Lƣợng đất xói mòn (tấn/acre/năm) R : Hệ số xói mòn do mƣa (phút-tấn/acre) 5 K : Hệ số xói mòn do đất LS : Hệ số xói mòn do độ dốc và chiều dài dốc MS : Hệ số về biện pháp quản lý thực bì. Các dòng chảy phát sinh và khả năng giữ nƣớc của đất Đất rừng tự nhiên thƣờng có khả năng thấm nƣớc cao và ít khi xuất hiện dòng chảy mặt (Douglass,1977; Pritchett,1979). Tuy nhiên, rừng bị chặt hạ trở nên thƣa thớt và độ dốc mặt đất lớn có thể tạo ra nhiều lƣợng nƣớc chảy trên bề mặt (Ruxton B P. 1967; Imeson A C và Vis, 1982).