Chương I: Giới thiệu chung Chương II: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ NHĐT tại NHTM Chương III: Thiết kế nghiên cứu Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương V: Kết luận và một số kiến nghị 5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHĐT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về chất lượng dịch vụ NHĐT 2.1 Khái niệm về dịch vụ NHĐT Trong những năm trở lại đây, một trong những bước phát triển quan trọng nhất trong lĩnh vực ngân hàng phải kể đến đó chính là sự phát triển của một hệ thống kênh phân phối mới, áp dụng những đổi mới cải tiến trong công nghệ hiện đại và nó dược gọi là dịch vụ NHĐT (gọi tắt là dịch vụ e-banking). Các dịch vụ ngân hàng điện tử thì được thiết lập bởi các tổ chức ngân hàng quốc tế hàng đầu như là các hoạt động độc lập và là một phần không thể thiếu của một dịch vụ ngân hàng khi thành lập (Hughes, 2003 & Hilal, 2015). Sự ra đời của ngân hàng điện tử đã thay đổi và định nghĩa lại cả cách thức hoạt động và nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh (Berz & cộng sự, 2009). Ngân hàng điện tử tập trung vào vấn đề bảo mật và sự tin tưởng mà người dùng có thể trao cho kênh này cũng như hiệu suất của hệ thống (Patriche & Bajenaru, 2010; Lee, 2008).
Đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ ngân hàng điện tử của các tác giả trong và ngoài nước, điển hình như theo Stamoulis (1999) cho rằng, ngân hàng điện tử là một kênh phân phối đa phương tiện, giá rẻ, toàn cầu. Còn theo Toufaily & cộng sự (2009) lại cho rằng ngân hàng điện tử là một thuật ngữ bao gồm quá trình người tiêu dùng có thể quản lý các giao dịch điện tử của ngân hàng mà không cần đến trực tiếp ngân hàng. Thulani & Chitura (2009) đã định nghĩa, ngân hàng điện tử là dịch vụ cho phép khách hàng của ngân hàng truy cập vào tài khoản của họ tiếp nhận thông tin mới nhất về ngân hàng, sản phẩm và dịch vụ, thực hiện tất cả các giao dịch tài chính bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu thông qua việc sử dụng trang web của ngân hàng. Nhờ dịch vụ này, khách hàng có thể truy cập tài khoản mỗi ngày ở bất cứ nơi đâu, chuyển tiền, nhận thanh toán hóa đơn trực tuyến và trực tiếp tải xuống sao kê và báo cáo giao dịch (Lioyd, 6 2007).
Ngoài ra, ngân hàng điện tử cho phép khách hàng quản lý các hoạt động tài chính của họ một cách linh hoạt 24/7 thay vì hạn chế bởi thời gian vật lý. Do đó, ngân hàng điện tử là dịch vụ tự phục vụ giúp loại bỏ các hạn chế về thời gian và không gian trong việc thực hiện các hoạt động ngân hàng và đảm bảo sự thoải mái và sẵn có cho khách hàng (Hu & Liao, 2011; Aderonke, 2010). Tại Việt Nam, theo quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc ban hành cách quy định về nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động Ngân hàng điện tử có nêu: "Hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử ". Trong đó: "Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng".
Cũng theo Kim Đức Thịnh (2009): Dịch vụ ngân hàng điện tử được hiểu như sau: Theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng. Theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. Tóm lại, ta có thể hiểu dịch vụ ngân hàng điện tử là một dịch vụ mà các ngân hàng cung cấp cho khách hàng thông qua Internet để thực hiện việc truy vấn thông tin về tài khoản, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, mở tài khoản trực tuyến, đăng ký mở thẻ, đăng ký vay trực tuyến,. trên website của Ngân hàng tại bất cứ điểm truy cập Internet nào và vào bất cứ thời điểm nào mà không cần phải đến các quầy giao dịch của ngân hàng.
Với dịch vụ ngân hàng điện tử bạn có thể sử dụng các dịch vụ hay mua sắm nhanh chóng, tiện lợi hơn, để đăng ký dịch vụ này bạn cần tới các trung tâm giao dịch của ngân hàng phát hành thẻ 2.2 Một số loại hình dịch vụ của NHĐT 2.1 Phone banking 7 Đây là hình thức ngân hàng điện tử được thực hiện trên điện thoại, ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng số điện thoại tổng đài để khách hàng có thể liên hệ giao dịch như tra cứu thông tin, thực hiện các giao dịch. Phone banking có hai hình thức thực hiện là Call center và hệ thống trả lời tự động ATS (Automatic telephone system). Call center: Là dịch vụ chăm sóc khách hàng qua điện thoại, thông qua các giao dịch viên của ngân hàng để tiếp nhận yêu cầu, giải quyết khiếu nại, thắc mắc của khách hàng. Do đây là dịch vụ quản lý khách hàng tập trung dựa trên hoạt động của Trung tâm chăm sóc và tư vấn khách hàng nên khách hàng ở bất kỳ chi nhánh nào của một ngân hàng vẫn có thể gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm để được cung cấp các thông tin chung và thông tin cá nhân.
Call center có thể linh hoạt cung cấp thông tin và giải đáp các thắc mắc của khách hàng, nhược điểm của call center là ngân hàng phải có nhân viên trực 24/24 giờ. ATS: Đây là hệ thống tự động trả lời của ngân hàng hoạt động 24/7, thông qua đầu số điện thoại cố định của Ngân hàng, khách hàng có thể giao dịch với Ngân hàng mà không cần phải đến trực tiếp ngân hàng bằng việc gọi vào số tổng đài ngân hàng và bấm phím trên bàn phím điện thoại theo mã do ngân hàng quy định trước để yêu cầu hệ thống trả lời tự động các thông tin cần thiết. Các dịch vụ phổ biến được cung cấp trên ATS như nhận tư vấn thông tin về sản phẩm, dịch vụ; thông tin về lãi suất, tỷ giá, các chương trình khuyến mãi; truy vấn thông tin tài khoản; liệt kê các giao dịch của tài khoản.2 Mobile banking Đây cũng là hình thức dịch vụ ngân hàng điện tử mà khách hàng sử dụng điện thoại di động để tra cứu thông tin và thực hiện các giao dịch với ngân hàng. Mobile banking bao gồm các hình thức như SMS banking, GSM SIM Toolkit và WAP.
SMS banking: là hình thức dịch vụ ngân hàng điện tử được thực hiện qua tin nhắn trên điện thoại di động. Tin nhắn sẽ gửi về số điện thoại mà khách hàng đã đăng ký với ngân hàng một cách tự động sau khi khách hàng thực hiện các giao 8 dịch trên tài khoản của mình. Ngoài ra, khách hàng cũng có thể nhắn tin theo cú pháp do ngân hàng quy định để tra cứu các thông tin về lãi suất, tỷ giá, số dư tài khoản. GSM SIM Toolkit: Hình thức này cho phép khách hàng truy vấn thông tin, thực hiện các giao dịch trên tài khoản của mình thông qua điện thoại di động với thẻ SIM được tích hợp các ứng dụng của ngân hàng.
Với hình thức này thì ngân hàng và nhà cung cấp dịch vụ viễn thông phải liên kết với nhau để cung cấp cho khách hàng thẻ SIM đặc biệt được tích hợp các dịch vụ ngân hàng kèm theo. Các giao dịch được thực hiện phổ biến quá hình thức này là truy vấn thông tin tài khoản, thực hiện giao dịch chuyển khoản giá trị nhỏ, thanh toán hoá đơn điện nước, điện thoại.Khi thực hiện các giao dịch này thì khách hàng cần đăng nhập vào hệ thống. WAP (Wireless Application Protocol): Đây là hình thức dịch vụ ngân hàng điện tử mà khách hàng có thể truy cập vào website của ngân hàng để thực hiện các giao dịch trực tuyến từ điện thoại di động. Website của ngân hàng phải có hai chế độ hiển thị là hiển thị trên màn hình máy tính và trên màn hình điện thoại di động.
Ngoài ra, khách hàng cũng có thể truy cập vào tài khoản ngân hàng của mình thông qua ứng dụng của ngân hàng được cài đặt trên hệ điều hành của các dòng điện thoại thông minh, sau khi đăng nhập vào ứng dụng này khách hàng có thể thực hiện được nhiều các giao dịch như truy vấn thông tin tài khoản, thực hiện các giao dịch chuyển khoản, thanh toán hoá đơn.3 Home banking Home-banking là kênh phân phối dịch vụ của ngân hàng điện tử, cho phép khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản với ngân hàng (nơi khách hàng mở tài khoản) tại nhà, tại văn phòng công ty mà không cần đến ngân hàng. Ứng dụng và phát triển Home-banking là một bước tiến may mắn của các ngân hàng thương mại Việt Nam trước sức ép rất lớn của tiến trình hội nhập toàn cầu 9 về dịch vụ ngân hàng. Đứng về phía khách hàng, Home-banking đã mang lại những lợi ích thiết thực: nhanh chóng- bảo mật-an toàn- thuận tiện. Dịch vụ ngân hàng tại nhà được xây dựng trên một trong hai nền tảng: hệ thống các phần mềm ứng dụng (Software Base) và nền tảng công nghệ web (Web Base), thông qua hệ thống máy chủ, mạng Internet và máy tính con của khách hàng, thông tin tài chính sẽ được thiết lập, mã hoá, trao đổi và xác nhận giữa ngân hàng và khách hàng.4 Internet banking Đây là một trong những hình thức phổ biến của dịch vụ ngân hàng điện tử, nó là kênh phân phối các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, mang ngân hàng đến nhà, văn phòng, trường học, đến bất kỳ nơi đâu và bất cứ lúc nào.
Với máy tính kết nối Internet, hoặc có thể gởi đến ngân hàng những thắc mắc, góp ý với ngân hàng và được trả lời sau một thời gian nhất định. Khách hàng có thể truy cập trực tuyến vào website của ngân hàng, đăng nhập vào tài khoản cá nhân để thực hiện được nhiều các giao dịch như truy vấn thông tin, thực hiện các giao dịch chuyển tiền, thanh toán hoá đơn, mở tài khoản, gửi để nghị vay vốn, hoặc có thể gởi đến ngân hàng những thắc mắc, góp ý với ngân hàng và được trả lời sau một thời gian nhất định.