Chương 1: Giới thiệu về lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và những nghiên cứu liên quan. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ, sự hài lòng, các đặc tính của khu vực y tế; đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu, nghiên cứu định tính, hiệu chỉnh thang đo, hoàn thiện bảng câu hỏi phục vụ cho nghiên cứu định lượng. Chương 4: Trình bày kết quả phân tích dữ liệu.
Chương 5: Kết luận, các đề xuất quản trị, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết về chất lượng dịch vụ 2.1 Định nghĩa chất lượng dịch vụ Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau. Một số chuyên gia về chất lượng đã định nghĩa rằng: - Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ (Parasuraman và cộng sự, 1985). - Chất lượng dịch vụ là sự cung cấp dịch vụ xuất sắc so với mong đợi khách hàng (Zeithaml và Bitner, 1996).
Mọi người ngày càng không ngừng tìm kiếm các sản phẩm và dịch vụ chất lượng. Điều này khiến các nhà quản trị đều coi chất lượng là mục tiêu chiến lược để đạt được lợi thế cạnh tranh. Nếu chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ được cải thiện sẽ làm giảm chi phí, tăng năng suất và tạo ra sản phẩm tốt hơn hay dịch vụ có sẵn cho khách hàng, từ đó nâng cao năng lực tổ chức và tạo mối quan hệ lâu dài với khách hàng (Mosadeghrad, 2011; Amin and Nasharuddin, 2013).2 Mô hình chất lượng dịch vụ Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ. Việc cần thiết là phải phát triển một hệ thống định được những mong đợi của khách hàng và sau đó có chiến lược nâng cao và duy trì chất lượng dịch vụ.
Parasuraman là người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ một cách cụ thể và chi tiết trong lĩnh vực tiếp thị với việc đưa ra mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ. Khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì chất lượng của dịch vụ được xem là hoàn hảo. 123doc 7 Thông tin Nhu cầu Kinh nghiệm truyền miệng cá nhân Chất lượng kỳ vọng Khách hàng Khoảng cách 5 Chất lượng cảm nhận ----------------------------------------------------------------------------------------------- Khoảng cách 1 Chất lượng Khoảng cách 4 Thông tin đến chuyển giao khách hàng Khoảng cách 3 Chuyển đổi cảm nhận thành tiêu chí chất lượng Nhà tiếp thị Khoảng cách 2 Nhận thức về kỳ vọng của khách hàng Hình 2.1 Mô hình chất lượng dịch vụ Parasuraman và cộng sự (1985) - Khoảng cách 1: khoảng cách giữa nhận thức của công ty với kỳ vọng của khách hàng. Sai biệt này là do nhà quản lý không hiểu biết được hết những đặc điểm nào tạo nên chất lượng dịch vụ của mình cũng như cách thức chuyển giao chúng cho khách hàng để làm hài lòng họ.
Ở lĩnh vực y tế, bệnh viện cần phải biết rõ các yếu tố cấu thành nên chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh để đem lại sự hài lòng cho người bệnh. 123doc 8 - Khoảng cách 2: khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng với các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ. Sai biệt là do khả năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên cũng như chất lượng dịch vụ quá dao động. Điều này rất dễ xảy ra trong lĩnh vực y tế khi mà cầu về dịch vụ cao quá cao làm cho bệnh viện quá tải, mặt khác năng lực chuyên môn của các thầy thuốc cũng rất khác nhau.
- Khoảng cách 3: khoảng cách giữa tiêu chuẩn dịch vụ với dịch vụ thực tế cung cấp cho khách hàng. Nguyên nhân do không phải lúc nào các nhân viên cũng có thể hoàn thành nhiệm vụ theo tiêu chí đã đề ra. Ví dụ: trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, thái độ của nhân viên là rất quan trọng và gây ảnh hưởng đến cảm nhận của người bệnh về chất lượng dịch vụ, về y đức của nhân viên y tế. - Khoảng cách 4: khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ thực tế cung cấp và chất lượng dịch vụ đã thông tin tới khách hàng.
Điều này xảy ra khi bệnh viện không giữ đúng cam kết. Cũng có thể khách hàng nhận được thông tin qua các phương tiện quảng cáo không phản ánh đúng chất lượng của dịch vụ. - Khoảng cách 5: khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ khách hàng cảm nhận được và kỳ vọng của khách hàng. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này.3 Đánh giá chất lượng dịch vụ Có nhiều cách đánh giá khác nhau về chất lượng dịch vụ thông qua cảm nhận của khách hàng.
Parasuraman và cộng sự (1985) đưa ra mười khía cạnh của chất lượng dịch vụ bao gồm: - Tin cậy: tính chắc chắn của kết quả, có căn cứ, làm đúng ngay từ đầu và những lời cam kết; - Đáp ứng: luôn sẵn sàng phục vụ khách hàng một cách nhanh chóng; - Năng lực: gồm kiến thức, kỹ năng của nhân viên tiếp xúc, nhân viên trợ giúp, khả năng quản lý, điều hành của tổ chức; - Tác phong: nhân viên luôn lịch sự, nhã nhặn, ân cần và thân thiện khi giao tiếp; 123doc 9 - Tín nhiệm: lòng tin, sự tin tưởng, sự chân thật và chiếm được tình cảm của khách hàng; - Đảm bảo: không có nguy hiểm, rủi ro hay bất ngờ; - Tiếp cận: dễ dàng tiếp cận; - Truyền đạt thông tin: luôn lắng nghe và thông tin cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được. + Hướng dẫn khách hàng bằng lời nói ngắn gọn để họ dễ hiểu; + Giải thích dịch vụ cho khách hàng hiểu; + Giải thích giá cả dịch vụ; + Giải thích sự chuyển giao dịch vụ và chi phí; + Bảo đảm với khách hàng các vấn đề giải quyết. - Hiểu rõ khách hàng: luôn cố gắng tìm hiểu nhu cầu khách hàng; - Tính hữu hình: những khía cạnh trông thấy của dịch vụ như trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, nhân viên phục vụ. Thang đo trên có ưu điểm là bao quát hầu hết của các khía cạnh của dịch vụ nhưng rất phức tạp trong việc đo lường và đánh giá.
Hơn nữa, thang đo này mang tính lý thuyết, phức tạp và có thể một số thành phần trong mô hình không đạt giá trị phân biệt trong một số trường hợp. Đến năm 1988, Parasuraman và cộng sự đã hiệu chỉnh lại và hình thành thang đo mới gồm năm thành phần, được đặt tên là SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự, 1988). - Tin cậy (Reliability): khả năng thực hiện dịch vụ đã hứa hẹn một cách chính xác và đáng tin tưởng. Một dịch vụ có thể tin cậy được nếu nó thực hiện đúng ngay từ ban đầu.
- Đáp ứng (Response): sự sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và nhanh chóng cung cấp các dịch vụ như đã hứa. - Đảm bảo (Assurance): những phẩm chất của nhân viên sẽ tạo lòng tin cho khách hàng (sự chuyên nghiệp, hiểu biết, lịch sự, nhã nhặn, khả năng giao tiếp, khả năng tạo niềm tin đối với khách hàng…) 123doc 10 - Cảm thông (Empathy): nhân viên phục vụ có phong cách dễ gần, sự quan tâm chú ý đến khách hàng, tạo cảm giác yên tâm cho khách hàng. - Tính hữu hình (Tangibility): vẻ bề ngoài của cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân viên, các tài liệu liên quan. Sự hài lòng và chất lượng dịch vụ 2.1 Khái niệm sự hài lòng Có rất nhiều khái niệm về sự hài lòng trong tiếp thị dịch vụ (Giese and Cote, 2002).
Theo Tse và Wilton (1988) hài lòng là phản ứng của khách hàng để đánh giá về sự khác biệt giữa kỳ vọng trước đó và mức độ cảm nhận sau khi tiêu thụ dịch vụ. Theo Kotler và Armstrong (2011) sự hài lòng của khách hàng phụ thuộc vào cảm nhận về việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ so với kỳ vọng của người mua. Nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì khách hàng không hài lòng, nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng, nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì khách hàng rất hài lòng.2 Quan hệ giữa sự hài lòng và chất lượng dịch vụ Các nhà kinh doanh dịch vụ thường cho rằng chất lượng dịch vụ chính là mức độ hài lòng của khách hàng. Tuy nhiên, qua nhiều nghiên cứu cho thấy, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng là hai khái niệm phân biệt có quan hệ với nhau.
Sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát, thể hiện sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ. Trong khi đó, chất lượng dịch vụ chỉ tập trung và các thành phần cụ thể của dịch vụ (Wilson Alan et al. Các nhà cung cấp dịch vụ y tế được khuyến khích thường xuyên theo dõi chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và liên tục cải tiến chất lượng để duy trì hoặc tăng sự hài lòng của người bệnh. Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách (Mosadeghrad, 2011).
Nhìn chung, chất lượng dịch vụ mà bệnh viện cung cấp cho người bệnh là nguồn gốc của sự hài lòng hay không hài lòng của họ đối với bệnh viện (Nasim and Janjua, 2014). Các đặc tính của khu vực y tế 2.1 Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh Theo Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (2013) chất lượng là mức độ mà dịch vụ y tế cung cấp cho cá nhân hoặc cộng đồng có thể làm tăng khả năng đạt được kết quả về sức khoẻ mong đợi và phù hợp với kiến thức về chuyên môn hiện hành. Để xác định sự gia tăng này cần trả lời được câu hỏi như: Hôm nay người bệnh có khoẻ hơn hôm qua không? Ngày mai, liệu người bệnh có khoẻ hơn hôm nay không?. Để trả lời được chính xác các câu hỏi như vậy, cũng là trả lời về mức độ chất lượng, cần phải đo lường chính xác mức độ thực hiện nhiệm vụ, công việc trước đây, hiện nay và tương lai.
Ngày 03/12/2013, Bộ Y tế đã triển khai đến các cơ sở khám, chữa bệnh Quyết định 4858/QĐ-BYT về việc ban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện.