Chương 1. Tổng quan về nghiên cứu Trình bày khái quát bối cảnh và lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết có liên quan: Dịch vụ, dịch vụ công, dịch vụ hải quan, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng; một số mô hình nghiên cứu trước; đề xuất mô hình nghiên cứu cùng phát biểu các giả thuyết. Thiết kế nghiên cứu Trình bày thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu, xây dựng thang đo và phương pháp phân tích dữ liệu.
Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả”kiểm định độ tin cậy của các thành phần”thang đo, phân tích khám phá các”nhân tố, phân tích hồi quy để”khẳng định mối quan hệ giữa các biến. Kết luận và các hàm ý quản lý Kết luận chung và đề xuất một số hàm ý quản lý nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ hải quan, nêu lên những hạn chế của đề tài và đề nghị các hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. 123doc 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm có liên quan: Dịch vụ, dịch vụ công, dịch vụ hải quan, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng;”một số mô hình nghiên cứu trước; và đề xuất mô hình”nghiên cứu cùng phát biểu các giả thuyết. Khái niệm Dịch vụ Dịch vụ là một loại hàng hóa kinh tế đặc biệt, vô hình khác biệt so với các sản phẩm hàng hóa hữu hình khác.
Các nhà nghiên cứu có quan điểm khác nhau về dịch vụ: “Hầu hết các dịch vụ là vô hình (Bateson 1977, Berry 1980, Lovelock 1981, Shostak 1977)” (Parasuraman và cộng sự, 1985, P42). Dựa trên quan điểm phi quyền sở hữu của các”dịch vụ, Jochen (2016, P15) định nghĩa toàn diện về các dịch vụ: “Dịch vụ là các hoạt động kinh tế được thực hiện bởi một bên cho bên”khác”. Jochen cũng lưu ý rằng dịch vụ cũng được định nghĩa là hoạt động kinh tế giữa hai bên, trao đổi giá trị giữa người bán và người mua trên thị trường. “Dịch vụ thường dựa trên thời gian và mang lại kết quả mong muốn cho người nhận.
Bằng cách đổi lấy thời gian, tiền bạc của người”nhận dịch vụ, người cung cấp dịch vụ”nỗ lực phục vụ khách hàng giá trị kỳ vọng từ việc khai thác lao động, kỹ năng, chuyên môn, cơ sở vật chất. Tuy nhiên khách hàng thường không có quyền sở hữu các yếu tố vật lý liên quan” (Jochen, 2016, P15), giá trị kỳ vọng mà khách hàng nhận được xuất phát từ việc tiếp cận với nhiều yếu tố giá trị hơn là chuyển quyền sở hữu. Theo Kotler và Armstrong (1999), dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này đáp ứng cho chủ thể kia nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với chủ thể đó. Theo Zeithaml và Bitner (2000), dịch vụ là hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
123doc 7 Theo De Oliveira và Ferreira (2009) thì dịch vụ là hoạt động kinh tế tạo giá trị và cung cấp lợi ích cho khách hàng tại thời gian cụ thể và địa điểm cụ thể như là kết quả của một sự thay đổi mong muốn, hoặc thay mặt cho người nhận dịch vụ. Theo De Oliveira và Ferreira, một dịch vụ mang tính chất vô hình và chỉ đánh giá được khi kết hợp với các chức năng khác là các quá trình sản xuất, các sản phẩm hữu hình. Định nghĩa của Bennett (1995): Dịch vụ là những hoạt động có thể riêng biệt nhưng phải mang tính vô hình nhằm thoả mãn nhu cầu, mong muốn của khách hàng, theo đó dịch vụ không nhất thiết phải sử dụng sản phẩm hữu hình, nhưng trong mọi trường hợp đều không diễn ra quyền sở hữu một vật nào cả. Đặc điểm của dịch vụ Theo” Parasuraman và cộng sự (1985), dịch vụ có 3 đặc điểm chính: Thứ nhất, hầu hết các loại dịch vụ là vô hình, không thể đếm, đo lường, dự trữ dùng thử và nhận xét trước khi bán để đảm bảo chất lượng.
Vì tính vô hình đó mà nhà cung cấp dịch vụ khó có thể hiểu được người tiêu dùng cảm nhận”như thế nào về dịch vụ mà họ cung cấp và”đánh giá nó như thế nào. Thứ hai, dịch vụ mang tính không đồng nhất. Quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ khác nhau giữa nhà cung cấp này với nhà cung cấp khác, giữa khách hàng này với khách hàng khác và giữa lúc này với lúc khác. Điều này do sự tạo ra và cung ứng dịch vụ thường bao gồm sự tương tác qua lại giữa các nhân viên thực hiện dịch vụ và khách hàng.
Do đó, không giống trong sản xuất hàng hoá,”chất lượng dịch vụ có bản chất”tương tác nên rất khó đo lường và kiểm soát. Thứ ba, quá trình tạo ra và tiêu thụ của nhiều loại dịch vụ là không thể tách rời. Do đó, chất lượng trong dịch vụ không phải được tạo ra trong nhà máy rồi chuyển thẳng đến người tiêu dùng mà chất lượng dịch vụ thể hiện ngay trong quá trình cung ứng và thường có tác động qua lại giữa nhà cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng. Dịch vụ công 2.
Khái niệm Dịch vụ công Mathieu-Colas (1995) định nghĩa: Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm.” Tiếp cận từ góc độ chủ thể cung ứng, tác giả Mai (2003, trang 24) phát biểu: “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội”. Nhấn mạnh vai trò đảm nhiệm và mục tiêu của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công, Thành (2007, trang 49) cho rằng: “Dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận”. Và kết lại, “… Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ một Nghị quyết của Chính phủ về dịch vụ công, theo đó khái niệm dịch vụ công được hiểu là các dịch vụ đáp ứng những nhu cầu cơ bản thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, do Nhà nước đảm bảo, không vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần ổn định, công bằng xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước. Đặc điểm của dịch vụ công Theo Thành (2007, trang 49-51) dịch vụ công phải”có các đặc trưng cơ bản sau đây: Là”các hàng hóa, dịch vụ do nhà nước (cơ quan hành chính, cơ quan sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước, hoặc các tổ chức cá nhân có đủ năng lực theo chế độ đặc nhượng, ủy quyền) chịu trách nhiệm tổ chức cung ứng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Nhà nước là người chịu trách nhiệm cuối cùng về chất lượng, giá cả mà nhà nước cam kết cung cấp cho xã hội, người dân. Phục vụ trực tiếp cho nhu cầu, lợi ích cơ bản, thiết yếu của người dân. 123doc 9 Không vì mục tiêu lợi nhuận. (Huấn và cộng sự, 2016, trang 33): “… Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ công không nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Không phân biệt đối tượng được cung ứng, thụ hưởng. Và dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng đảm bảo công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi. (Huấn và cộng sự, 2016, trang 33): “… Mọi người dân đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp nhận và sử dụng dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục vụ của nhà nước”. Phân loại dịch vụ công Để phân loại dịch vụ công, theo Huấn và cộng sự (2016, trang 30-32) và Thành (2007, trang 54-61) thì “dịch vụ công trong nền kinh tế bao gồm ba loại: Dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ công ích”.
(1) “Dịch vụ hành chính công: Là những dịch vụ phục vụ chung cho mọi người dân (dù không phải mọi người dân có nhu cầu cùng lúc), Nhà nước phục vụ các quyền của người dân, có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ hành chính, tư pháp như: giấy chứng nhận nhân thân, giấy phép các loại, … theo quy định của pháp luật. Các cơ quan công quyền thực hiện và không thu tiền” (Thành, 2007, trang 54). Quan niệm về dịch vụ hành chính công, Phan và cộng sự (2010, trang 3) cho rằng: “Dịch vụ hành chính công là loại hình dịch vụ công”. Thành (2007, trang 57) cho rằng “Khái niệm dịch vụ hành chính công chỉ loại dịch vụ gắn liền với thẩm quyền hành chính thường do các cơ quan hành chính thực hiện, khác với các loại dịch vụ khác tuy cũng thuộc trách nhiệm của Nhà nước, nhưng không gắn với thẩm quyền hành chính và do các chủ thể khác - đơn vị sự nghiệp hoặc doanh nghiệp cung cấp, thực hiện”.
Phạm vi dịch vụ hành chính bao gồm các hoạt động thực thi các chính sách, pháp luật nói chung và việc bảo đảm các quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của các tổ chức và công dân như cấp các loại giấy phép, giấy khai sính, chứng minh thư, xác nhận hộ tịch, hộ khẩu, bổ trợ tư pháp, thu thuế, hải quan, …. 123doc 10 (2) Dịch vụ sự nghiệp công: cung cấp chủ yếu là các hàng hóa phi hiện vật; đáp ứng những nhu cầu cơ bản về phát triển cá nhân của con người; do các tổ chức sự nghiệp (tổ chức chuyên ngành có chuyên môn sâu) cung ứng, không thu tiền hoặc có thu tiền một phần nhưng không hoàn toàn theo giá cả thị trường, không vì mục tiêu lợi nhuận. Dịch vụ sự nghiệp công do Nhà nước cung cấp tập trung vào các lĩnh vực: giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa, khoa học và công nghệ, thể dục thể thao, lao động, việc làm, an sinh xã hội, … (3) Dịch vụ công ích: là loại hình dịch vụ công ít chịu ảnh hưởng bởi vai trò điều tiết của Nhà nước (so với hai loại hình dịch vụ công nói trên), và cũng là loại hình dịch vụ công có khả năng thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế nhất.