Chương 1: Cơ sở lý thuyết về BHNT và sự hài lòng của khách hàng đối với việc phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Chương 2: Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với việc phân phối sản phẩm bảo hiểm của MB Ageas Life qua Ngân hàng TMCP Quân đội CN Hưng Yên Chương 3: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với việc phân phối sản phẩm bảo hiểm của MB Ageas Life qua Ngân hàng TMCP Quân đội CN Hưng Yên 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÂN PHỐI SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Cơ sở lý thuyết về Bảo hiểm nhân thọ 1. Khái niệm và đặc điểm của Bảo hiểm nhân thọ a. Khái niệm Theo quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2013 quy định: “Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” (Quốc hội, 2013).
Theo Ông Phùng Đắc Lộc: Bảo hiểm nhân thọ là cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm đáp ứng nhu cầu một khoản tài chính (số tiền chi trả) trong tương lai của người tham gia bảo hiểm đã lựa chọn để sử dụng khi xảy ra các rủi ro, sự cố bất ngờ hoặc các sự kiện được bảo hiểm đã được quy định trong hợp đồng bảo hiểm, đồng thời người tham gia bảo hiểm cam kết đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn như hợp đồng bảo hiểm đã quy định. Theo Công ty TNHH tài chính Prudential Việt Nam:Bảo hiểm nhân thọ là hoạt động giữa một cá nhân và một công ty bảo hiểm nhân thọ để bảo hiểm cho bản thân mình hoặc người thân, hoặc giữa một tổ chức với một công ty bảo hiểm nhân thọ với mục đích bảo đảm an toàn tài chính cho người tham gia bảo hiểm. Sau khi kí hợp đồng bảo hiểm người tham gia bảo hiểm được bảo hiểm ngay lập tức với số tiền bảo hiểm ghi trên hợp đồng, nghĩa là khi xảy ra sự kiện bảo hiểm công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ chi trả đầy đủ số tiền bảo hiểm mà khách hàng đã mua bất kể khách hàng tham gia bao lâu, nộp phí bao nhiêu miễn là khách hàng kê khai trung thực, đầy đủ khi điền hồ sơ yêu cầu bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm đầy đủ đúng hạn. Từ các khái niệm trên cho thấy bảo hiểm nhân thọ có thể được hiểu trên 2 phương diện: kỹ thuật và pháp lý.
- Trên phương diện kỹ thuật, bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm bao hàm 5 những cam kết mà sự thực hiện những cam kết đó phụ thuộc vào tuổi thọ của con người. Có hai loại cam kết chủ yếu trong bảo hiểm nhân thọ, đó là cam kết đóng phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và cam kết trả tiền bảo hiểm hoặc trả trợ cấp định kỳ của doanh nghiệp bảo hiểm.Do thời hạn hợp đồng bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ kéo dài nhiều năm nên người tham gia bảo hiểm thường cam kết đóng phí làm nhiều lần. Thông thường, nếu người tham gia bảo hiểm bị chết trước khi hoàn thành nghĩa vụ đóng phí cho cả hợp đồng thì cam kết đóng phí những lần còn lại sẽ chấm dứt, nghĩa là không có ai trong phía bên mua bảo hiểm phải đóng thay họ.Khi người được bảo hiểm bị chết hoặc còn sống đến một thời điểm nhất định đã chỉ rõ trong hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện cam kết của mình, trả cho một hoặc nhiều người thụ hưởng một khoản tiền nhất định hoặc những khoản trợ cấp. - Trên phương diện pháp lý, bảo hiểm nhân thọ bao gồm các hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, theo đó, để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một khoản tiền nhất định hoặc những khoản trợ cấp định kì trong trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định hoặc tử vong trước một thời điểm nhất định đã được ghi rõ trên hợp đồng bảo hiểm.
Tóm lại, bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia bảo hiểm (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người. Hoặc người ta còn định nghĩa, BHNT là bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngược nhau, đó là sống và tử vong. Đặc điểm Theo Giáo trình Bảo hiểm, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân năm 6 2014, chủ biên PGS.
Nguyễn Văn Định có đưa ra 5 đặc điểm cơ bản của bảo hiểm nhân thọ như sau: BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT và bảo hiểm phi nhân thọ. Mỗi người mua bảo hiểm nhân thọ sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. STBH được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp đồng. Hoặc số tiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này không may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm.
Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản chi phí cần thiết như: thuốc men, mai táng, giáo dục con cái… Chính vì vậy BHNT vừa mang tính chất tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro. Tính chất tiết kiệm ở đây thể hiện ngay trong từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật. Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là khi người được bảo hiểm không may gặp rủi ro trong thời hạn bảo hiểm đã được ấn định, người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay STBH từ công ty bảo hiểm.
Điều đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong BHNT. BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT đã đáp ứng được nhiều mục đích hơn, mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng. Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm này có thị 7 trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm. Các loại hợp đồng trong BHNT rất đa dạng và phức tạp Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ở ngay các sản phẩm của nó.
Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có các hợp đồng 5 năm, 10 năm. Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạn khác nhau lại có sự khác nhau về STBH, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia… Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp. Khác với các bản HĐBH phi nhân thọ, trong mỗi HĐBH nhân thọ có thể có tới 4 bên tham gia: người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm, người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm. Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp Giá cả sản phẩm BHNT phụ thuộc vào chi phí để đưa sản phẩm đến công chúng như chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng, ngoài ra tính phí BHNT còn phụ thuộc vào: độ tuổi của người được bảo hiểm, tuổi thọ bình quân của con người, số tiền bảo hiểm, thời hạn tham gia, phương thức thanh toán, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền… Điều đó khác với việc định giá một chiếc xe ô tô.
Chiếc xe ô tô là sản phẩm của một dây chuyền sản xuất, để sản xuất ra nó, người ta phải bỏ ra rất nhiều chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao động sống, khấu hao tài sản cố định… Những khoản phí này là chi phí thực tế phát sinh và thực chất chúng là chi phí đầu vào được hạch toán một cách chi tiết, đầy đủ và chính xác để phục vụ cho quá trình định giá. Thế nhưng khi định giá phí BHNT, một số yếu tố nêu trên phải giả định như tỉ lệ chết, tỉ lệ hủy bỏ hợp đồng, lãi suất đầu tư, tỉ lệ lạm phát… Vì thế quá trình định phí ở đây rất phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng từng loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích chiều hướng phát triển của mỗi sản phẩm trên thị trường nói chung. BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Ở các nước phát triển, BHNT đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay. Ngược lại có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được 8 BHNT, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó.
Để lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế xã hội phải phát triển: Điều kiện kinh tế bao gồm: Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân 1 đầu người (GDP/người), mức thu nhập của dân cư, tỉ lệ lạm phát của đồng tiền, tỉ giá hối đoái… Điều kiện xã hội bao gồm: Điều kiện về dân số, tuổi thọ bình quân của người dân, trình độ học vấn, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh… 1.