Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu giống Hiện nay, cây hoa cúc được trồng ở rất nhiều nước trên thế giới như Italy, Hà Lan, Nhật Bản, Đức, Pháp, Việt Nam,… Chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Âu (Nguyễn Xuân Linh, 2000) [11]. Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007) [27] hoa cúc được trồng ở Trung Quốc cách đây 3000 năm, có nguồn gốc từ một số loài hoang dại thuộc loại cúc (Dendranthema), trải qua quá trình trồng trọt, lai tạo và chọn lọc từ những biến dị để trở thành những giống cúc ngày nay.
Hoa cúc được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 15, đến đầu thế kỷ 19 đã hình thành một số vùng chuyên nhỏ cung cấp cho nhân dân. Hiện nay cúc được trồng phổ biến ở khắp nước ta, nó có mặt ở mọi nơi, từ vùng núi cao cho đến đồng bằng, từ nông thôn cho đến thành thị. Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978) [3] cây hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum sp, trong phân loại thực vật cây hoa cúc được xếp vào lớp hai lá mầm (Dicotyledonec), phân lớp cúc (asterydae), bộ cúc (asterales), họ cúc (asteraceae), phân họ giống hoa cúc (asteroideae), chi Chrysanthemum. Ở Việt Nam hiện nay chi Chrysanthemum có 75 giống với 200 loài, còn trên thế giới chi Chrysanthemum có 1.
Trong số này có 4 loài thường được sử dụng làm cảnh và chơi hoa nhiều nhất là C. Từ những nghiên cứu về nguồn gốc, đặc điểm của hoa cúc, hiện nay có rất nhiều giống hoa cúc được nghiên cứu, chọn lọc và đưa vào sản xuất. Việc nghiên cứu, chọn tạo và khảo nghiệm các giống hoa cúc không chỉ đáp ứng yêu cầu tìm ra giống cúc phù hợp với từng vùng khí hậu, tạo ra các sản phẩm đặc trưng về các loại hoa cúc, mà nó còn khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng thế mạnh của từng vùng, giúp cho việc khu vực hóa thành các vùng sản xuất tập trung, từ đó sản xuất đáp ứng các nhu cầu của thị trường tiêu thụ. Cơ sở xác định thời vụ trồng Hoa cúc là cây trồng ngày ngắn, sự sinh trưởng và phát triển của cây chịu tác động rất lớn dưới tác dụng đồng thời của ánh sáng (quang chu kỳ) và nhiệt độ.
Cây hoa cúc dưới tác động của ánh sáng ngày dài sẽ không thể ra hoa được, hoặc những nụ mới được phân hoá thành cũng dừng lại tạo thành hình đầu lá liễu. Chỉ trong điều kiện tác động của ánh sáng ngày ngắn thì cây hoa cúc mới có thể phân hoá mầm hoa, sau đó tạo thành hoa. Các giống cúc khác nhau lúc phân hóa mầm hoa cũng yêu cầu độ dài chiếu sáng khác nhau, do vậy trong sản xuất cần hiểu rõ các phản ứng của các giống cúc với độ dài chiếu sáng trong ngày để xác định thời vụ trồng cho phù hợp, cũng như có các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp như: chiếu sáng bổ sung hay che bớt ánh sáng, ngắt ngọn,… để trồng sớm hoặc muộn hơn thời vụ chính đại trà, hay để điều khiển cho hoa ra và đúng các dịp lễ tết, hội hè. Cơ sở xác định ánh sáng Nếu trồng vào vụ Thu - Đông cần phải tính đến việc chiếu sáng bổ sung, tăng thêm độ dài chiếu sáng trong ngày để đảm bảo nhu cầu sinh trưởng, sinh dưỡng và phát triển của cây.
Theo báo cáo khoa học của Viện Nghiên cứu Rau quả, ở các tỉnh miền Bắc nếu trồng cúc vào vụ Đông cần phải chiếu sáng bổ sung mới thỏa mãn được nhu cầu sinh trưởng sinh dưỡng của cây. Đa số các giống cúc đều phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, chịu sự tác động của quang chu kỳ ngày ngắn, trong việc phân hóa mầm hoa, tức là chúng chỉ phân hóa mầm hoa ở một điều kiện thời gian chiếu sáng ngắn nhất định trong ngày. Nắm được đặc tính này Nguyễn Quang Thạch và Đặng Văn Đông đã đề ra phương pháp điều chỉnh sự ra hoa của hoa cúc vào thời điểm thích hợp bằng cách che bớt ánh sáng hoặc kéo dài thời gian chiếu sáng trong ngày hoặc sử dụng quang gián đoạn (chiếu ánh sáng nhân tạo trong thời gian ngắn vào lúc nửa đêm). Mục đích của chiếu sáng quang gián đoạn là giảm thời gian tối của mỗi ngày chứ không phải kéo dài thời gian chiếu sáng liên tục.
Vì vậy, nếu chiếu sáng thực hiện vào lúc nửa đêm để chia cắt thời gian chiếu sáng tối liên tục thành 2 giai đoạn tối, đồng thời cũng để tăng số giờ chiếu sáng thì hiệu quả cao hơn nhiều. Cơ sở xác định phân bón qua lá Cây trồng thường hấp thụ phân bón nhờ lông hút của bộ rễ và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đất đai, nước, giống, thời tiết, côn trùng, vi sinh vật,. Song từ lâu các nhà khoa học đã chứng minh được rằng ngoài hút chất dinh dưỡng từ đất cây trồng còn hút các chất dinh dưỡng ở dạng khí như CO2, O2, SO2,… từ bầu khí quyển qua lỗ khí khổng (Nguyễn Hạc Thúy, 2001) [23]. Bằng phương pháp đồng vị phóng xạ các nhà khoa học đã phát hiện ra, ngoài bộ phận lá các bộ phận khác như thân, cành, hoa, quả đều có khả năng hấp thu chất dinh dưỡng.
Với việc thực hiện nhiều thực nghiệm khác nhau các nhà khoa học đã phát hiện việc phun các chất dinh dưỡng dạng hòa tan vào trong lá, chúng thâm nhập vào cơ thể cây xanh qua lỗ khí khổng cả ngày lẫn đêm. Cơ chế đóng mở khí khổng không chỉ có liên quan chặt chẽ đến kích thước dài rộng của lỗ, liên quan đến ánh sáng, ẩm độ không khí, nhiệt độ, độ ẩm đất, các chất dinh dưỡng và sức sống của cây, mà còn liên quan chặt chẽ giữa axit abxixic, pH dịch bào và ion kali. Lỗ khí khổng có kích thước dài 7 - 40 µm, rộng 2 - 12 µmn với số lượng khá lớn, nếu bón phân qua lá vào thời điểm khí khổng mở rộng hoàn toàn thì đạt hiệu quả cao. Nắm được các đặc điểm này, hiện nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các loại chất dinh dưỡng qua lá phục vụ sản xuất.
Những công trình nghiên cứu này đã góp phần tăng tối đa lợi nhuận cho người sản xuất thông qua việc sử dụng phân bón qua lá hiệu quả, giảm thất thoát phân bón trong sản xuất, giúp cây cây khoẻ hơn, chịu được sâu bệnh, không làm tác động xấu đến đất như rửa trôi, làm chua đất như khi bón nhiều và liên tục phân bón hoá học vào đất. Tình hình sản xuất, phát triển hoa cây cảnh trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và phát triển hoa cây cảnh trên thế giới Sản xuất hoa, cây cảnh là ngành sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận cao cho nền kinh tế các nước trồng hoa, cây cảnh trên thế giới. Do vậy, diện tích trồng hoa ngày càng được mở rộng và tăng lên ở nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Đức, Mỹ, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hà Lan, Pháp, Anh, Úc, Kenya, Colombia, … 7 Theo thống kê của Hiệp hội Hoa Trung Quốc, nước này đã sản xuất gần 9 tỉ cành hoa tươi mỗi năm.
Với diện tích trồng hoa đạt 636.000 ha, chiếm 1/3 diện tích trồng hoa trên toàn thế giới, đã đưa Trung Quốc trở thành nước sản xuất hoa lớn nhất thế giới trong khi cách đây 20 năm, công nghiệp sản xuất hoa tươi gần như không tồn tại ở nước này. Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành một ngành thương mại cao. Sản xuất hoa mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa, trong đó có các nước châu Á. Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng được mở rộng và không ngừng tăng lên.
Ba nước sản xuất hoa lớn nhất chiếm 50% sản lượng hoa thế giới là Nhật Bản, Hà Lan, Mỹ. Hà Lan là cường quốc của các loài hoa trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu hoa hàng năm luôn đứng ở mức cao so với các nước trong khu vực Liên minh châu Âu (EU), không chỉ trồng hoa tươi xuất khẩu, mà còn nhập khẩu một lượng lớn hoa tươi từ các nước khác để xuất khẩu. Sản phẩm hoa nhập từ các nước đang phát triển vào EU thông qua Hà Lan không phải chịu thuế nhập khẩu nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thâm nhập thị trường châu Âu. Ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ ngành sản xuất hoa cây cảnh ngày càng được phát triển mạnh.
Ở châu Phi, Kenya là nước trồng nhiều hoa nhất với diện tích 2. Nam Phi và Zimbabwe có diện tích trồng hoa khoảng 1. Hướng sản xuất hoa, cây cảnh hiện nay của các nước trồng hoa trên thế giới là tăng năng suất, giảm chi phí, hạ giá thành, nhưng vẫn đảm bảo hoa đẹp, tươi, chất lượng cao và luôn thay đổi mẫu mã để phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Theo số liệu thống kê của tổ chức thương mại thế giới (WTO), sản lượng hoa xuất khẩu chiếm khoảng 13,362 tỷ USD vào năm 2006, trong số đó hoa cắt cành là 6,12 tỷ USD, hoa trồng chậu là 5,79 tỷ USD, sử dụng lá để trang trí là 893 triệu USD và các loại hoa khác là 559 triệu USD.
Nhìn chung hoa cắt hay hoa trồng chậu trên thế giới được tiêu thụ với một số lượng rất lớn, ngày càng yêu cầu cao về chất lượng để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như sử dụng cho tiêu dùng, trang trí,… 8 Theo số liệu tổng hợp của Jan Plasmeijer và Chumi Yanai (2012) [33] giá trị xuất khẩu hoa, cây cảnh năm 2011 của các nước trên thế giới đạt 10,486 tỷ euro, trong đó hoa và cây cảnh 5,243 tỷ euro, hoa cắt cành đạt 3,204 tỷ euro và hoa trồng chậu là 2,039 tỷ euro. Các nước có giá trị xuất khẩu lớn như Đức, Hà Lan, Anh, Pháp, Italy, Bỉ, Nga,… 1. Tình hình sản xuất và phát triển hoa cây cảnh ở Việt Nam Nghề sản xuất hoa và cây cảnh ở Việt Nam có từ lâu đời, nhưng chỉ được công nhận là một ngành kinh tế có giá trị hàng hoá từ những năm 80 của thế kỷ trước. Cũng giống như trên thế giới, ngành kinh tế này có tốc độ phát triển khá nhanh ở nhiều địa phương.
Hiện nay, nhiều chủng loại hoa cúc đã được trồng phổ biến ở khắp nước ta.