Luận văn đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình quế rừng trồng cinamumun cassia blume tại xã đào thịnh huyện trấn yên tỉnh yên bái

Luận văn đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình quế rừng trồng Cinamumun Cassia Blume tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Chuyên ngành

Nông lâm kết hợp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

65
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

1.2.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

2.1.1. Cơ sở khoa học về sinh trưởng và dự đoán sản lượng rừng trồng

2.1.2. Cơ sở khoa học nghiên cứu về hiệu quả kinh tế

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đánh giá sinh trưởng

Đánh giá sinh trưởng là trọng tâm của nghiên cứu, tập trung vào việc phân tích sự phát triển của cây quế trong mô hình rừng trồng tại Đào Thịnh, Trấn Yên, Yên Bái. Nghiên cứu đã sử dụng các chỉ tiêu như chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính ngang ngực (D1.3), và đường kính tán (Dt) để đánh giá sự sinh trưởng của cây quế. Kết quả cho thấy, cây quế tại khu vực này có tốc độ sinh trưởng ổn định, phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai địa phương. Sinh trưởng cây trồng được xác định là yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả của mô hình trồng quế, đồng thời là cơ sở để đề xuất các giải pháp nâng cao năng suất.

1.1. Sinh trưởng chiều cao

Chiều cao vút ngọn (Hvn) của cây quế được đo đạc và so sánh giữa các mô hình trồng khác nhau. Kết quả cho thấy, cây quế tại Đào Thịnh có chiều cao trung bình đạt từ 8-10m sau 7 năm trồng, phản ánh khả năng thích nghi tốt với điều kiện địa phương. Sinh trưởng cây trồng được đánh giá là yếu tố then chốt để xác định hiệu quả của mô hình.

1.2. Sinh trưởng đường kính

Đường kính ngang ngực (D1.3) và đường kính tán (Dt) được sử dụng để đánh giá sự phát triển của cây quế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, cây quế tại Trấn Yên có đường kính trung bình đạt 12-15cm sau 7 năm, phản ánh sự phát triển ổn định và khả năng sinh trưởng tốt.

II. Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng quế được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như giá trị thu nhập, chi phí đầu tư, và lợi nhuận thu được. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mô hình trồng quế tại Đào Thịnh mang lại giá trị kinh tế cao, với lợi nhuận trung bình đạt 50-60 triệu đồng/ha/năm. Kinh tế nông thôn được cải thiện đáng kể nhờ việc phát triển mô hình này, đồng thời góp phần vào phát triển bền vững nông nghiệp địa phương.

2.1. Giá trị thu nhập

Giá trị thu nhập từ mô hình trồng quế được tính toán dựa trên sản lượng vỏ quế, lá quế, và tinh dầu. Kết quả cho thấy, mỗi ha rừng quế tại Yên Bái có thể mang lại thu nhập từ 80-100 triệu đồng/năm, phản ánh hiệu quả kinh tế cao của mô hình.

2.2. Chi phí đầu tư

Chi phí đầu tư bao gồm giống, phân bón, và công chăm sóc. Nghiên cứu chỉ ra rằng, chi phí đầu tư trung bình cho 1ha rừng quế là 20-25 triệu đồng, tạo ra tỷ suất lợi nhuận hấp dẫn cho người dân địa phương.

III. Mô hình quế rừng trồng

Mô hình quế rừng trồng tại Đào Thịnh, Trấn Yên, Yên Bái được đánh giá là một trong những mô hình thành công trong việc kết hợp giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mô hình này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào việc quản lý rừng và bảo tồn tài nguyên rừng. Phát triển cây quế được xem là hướng đi bền vững cho nông nghiệp địa phương.

3.1. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

Kỹ thuật trồng và chăm sóc quế được nghiên cứu kỹ lưỡng, bao gồm việc chọn giống, bón phân, và phòng trừ sâu bệnh. Kết quả cho thấy, việc áp dụng các kỹ thuật tiên tiến đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng cây quế.

3.2. Quản lý rừng bền vững

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý rừng bền vững, bao gồm việc tăng cường giám sát và bảo vệ rừng, đồng thời khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn tài nguyên rừng.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong các loài cây lâm nghiệp thì cây Quế (Cinnamomum cassia Blume) được biết đến như một loại cây đặc sản của vùng nhiệt đới. Quế không chỉ có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái mà sản phẩm của Quế được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, thực phẩm, y dược, sản xuất công nghiệp và cung cấp gỗ củi. Tinh dầu quế là một mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao hiện nay đang được ưa chuộng. Theo tính toán, cứ 120-150 kg lá quế thì chưng cất được 1 kg tinh dầu với giá hiện nay từ 650.

Do bán được giá và thị trường tiêu thụ ổn định nên các cơ sở chế biến tinh dầu quế ở Yên Bái đang tận thu lá quế và đua nhau nâng giá thu mua. Nếu trước đây các hộ chỉ bán lá quế ở những cây khai thác với giá 500-800 đ/kg, đến nay do giá thu mua khá hấp dẫn 1.500 đ/kg nên các hộ khai thác lá quế cả ở những cây đang phát triển. Yên Bái là tỉnh có diện tích quế lớn nhất khu vực miền Bắc Việt Nam, tập trung tại các huyện Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn, Yên Bình và Lục Yên. Hiện nay, cây quế đang trở thành một trong những cây trồng chủ lực, đem lại giá trị kinh tế cao cho người dân Yên Bái.

Theo đó, mục tiêu phấn đấu đến năm 2022 tỉnh trồng mới 19.500 ha quế, diện tích cây quế toàn tỉnh 76.000 ha với sản lượng vỏ đạt 20.000 tấn và 600 tấn tinh dầu. Năm 2017, giá bán quế ổn định ở mức cao, vỏ quế khô bán với giá trung bình từ 30-40 nghìn đồng/kg, lá quế 2-3 nghìn đồng/kg, thân quế từ 15 cm trở lên bán với giá 1,5-1,8 triệu đồng/m3, tinh dầu quế từ 500-600 nghìn đồng/kg. 2 Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái, toàn tỉnh có trên 60.000 ha quế, mỗi năm thu về hơn 800 tỷ đồng, tập trung nhiều nhất tại huyện Văn Yên với diện tích trên 40. Ngày 22/7/2018, UBND tỉnh Yên Bái đã ban hành Quyết định số 1481/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển cây Quế tỉnh Yên Bái giai đoạn 2020 - 2025, với mục tiêu: Hình thành vùng trồng Quế tập trung, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước; Định hướng đến năm 2025, tỉnh Yên Bái có 78.000 ha Quế, sản lượng vỏ Quế khô trên 20.000 tấn/năm, giá trị đạt 500 tỷ đồng/năm, tinh dầu Quế đạt 600 tấn/năm, giá trị đạt trên 400 tỷ đồng/năm.

Bình quân mỗi năm toàn huyện trồng mới, trồng thay thế trên 2.500 ha rừng các loại với cơ cấu giống cây trồng chủ yếu là keo lai, keo tai tượng, quế, tre Bát Độ. [11] Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều mô hình liên kết sản xuất, giữa các doanh nghiệp, HTX với nông dân trồng Quế. Trong đó, tiêu biểu là HTX Quế Hồi Việt Nam, địa chỉ tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên; HTX có 22 xã viên, tổng diện tích 500 ha quế. Các hộ xã viên được HTX bao tiêu đầu ra với giá cao hơn thị trường.

Quế được thu mua, phân loại, sơ chế thành 12 loại sản phẩm và xuất khẩu đi Ấn Độ và các nước vùng Trung Đông. Trước đây, quế tươi chỉ bán với giá 15.000 đồng/kg, hiện nay giá quế bình quân đã lên 18. HTX Quế hồi Việt Nam đang xây dựng mới 01 nhà máy chế biến sản phẩm quế hữu cơ trên địa bàn xã có tổng diện tích là 14.312 m2, công suất từ 80 - 100 tấn quế tươi/tháng, vốn đầu tư 80 tỷ đồng với dây chuyền máy móc hiện đại, dự kiến tháng 10 năm 2018 sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động. Đặc biệt, HTX sẽ xây dựng quy trình vùng sản xuất quế hữu cơ theo tiêu chuẩn quốc tế để xuất khẩu sang các thị trường cao cấp với 3 giá trị kinh tế cao; Đồng thời cung cấp cây quế giống đảm bảo chất lượng và các dịch vụ cho thành viên, bao tiêu sản phẩm đầu ra cho người dân.

Tuy nhiên, việc đánh giá sinh trưởng rừng trồng Quế và hiệu quả kinh tế mô hình Quế rừng trồng ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái chưa được nghiên cứu. Xuất phát từ thực tế và nhu cầu của HTX Quế Hồi Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình quế rừng trồng (Cinamumun cassia Blume) tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”, là rất cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá sinh trưởng rừng trồng Quế tại xã Đào Thịnh. - Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình Quế rừng trồng tại khu vực nghiên cứu.

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững mô hình Quế rừng trồng tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Thông qua kết quả nghiên cứu đề tài góp phần cơ sở khoa học và lý luận về đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình trồng Quế. - Thông qua đánh giá sinh trưởng và hiểu quả kinh tế mô hình trồng Quế nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững các mô hình trồng Quế ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Kết quả nghiên cứu là dẫn liệu quan trọng đánh giá đúng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình trồng Quế cho HTX Quế hồi Việt Nam. - Đề tài là tài liệu tham khảo cho cán bộ, nhân dân có mô hình trồng Quế tại xã Đào Thịnh. 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2.

Cơ sở khoa học về sinh trưởng và dự đoán sản lượng rừng trồng Sinh trưởng của cây rừng và lâm phần là trọng tâm nghiên cứu của sản lượng rừng và là vấn đề có tính chất nền tảng để nghiên cứu các phương pháp dự đoán sản lượng cũng như xác định hệ thống biện pháp tác động nhằm nâng cao năng xuất của rừng. Những nơi trồng rừng khác nhau thì cấp đất của nó lại khác nhau do đó khả năng sinh trưởng và phát triển của cây rừng ở đó cũng khác nhau. Vì vậy, chúng ta phải nghiên cứu mối quan hệ giữa loài cây và cấp đất để rừng trồng không những luôn luôn sinh trưởng phát triển tốt, đạt năng suất cao mà còn có chất lượng tốt thì chúng ta phải nghiên cứu điều kiện lập địa trước khi trồng. Đất là nhân tố quyết định sự phân bố sinh trưởng, phát triển, cấu trúc sản lượng và tính ổn định của rừng.

Đá mẹ là cơ sở vật chất đầu tiên cấu tạo nên đất có ảnh hưởng trực tiếp đặc điểm lý học và hoá học của đất thông qua đó nó ảnh hưởng tới phân bố, sinh trưởng phát triển của cây rừng và sản lượng rừng. Tất cả các yếu tố khí hậu như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió… đều có tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành đất. Nó có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp thông qua thảm thực bì. Nước và nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất thông qua phá huỷ đá, hoà tan vật chất, xói mòn 5 rửa trôi, tổng hợp và phân giải chất hữu cơ trong đất.

Khi lượng mưa ở các khu vực khác nhau làm cho hàm lượng sét, dung tích hấp thu và pH trong đất thay đổi. Khi lượng mưa tăng làm cho pH trong đất giảm điều nay giải thích tại sao đa số đất ở Việt Nam đa số lại chua vì lượng mưa lớn từ 1500 - 2000 mm/năm. Khi lượng mưa tăng làm cho quá trình khoáng hoá dẫn đến hàm lượng sét tăng lên kéo theo dung tích hấp thu lại tăng. Ngược lại khi mưa nhiều đã rửa trôi các cation kiềm và kiềm thổ dẫn đến hàm lượng mùn và độ chua tăng [6,7].

Chế độ nước, nhiệt độ trong đất và độ sâu tầng đất là nhóm nhân tố ảnh hưởng quyết định đến phân bố hình thái và sự phát triển của hệ rễ thông qua đó ảnh hưởng đến tính ổn định của quần thể rừng. Đá mẹ dưới tác dụng của các yếu tố ngoại cảnh tạo thành mẫu chất. Sinh vật đã hút chất dinh dưỡng từ mẫu chất do đá vỡ vụn ra để sinh sống và khi chết đi lại tạo ra một lượng chất hữu cơ. Cứ như vậy sinh vật ngày càng nhiều và lượng chất hữu cơ tạo ra ngày càng nhiều hơn nên mẫu chất chuyển thành đất ngày càng tăng.

Ngoài ra, vi sinh vật làm nhiệm vụ tổng hợp và phân giải chất hữu cơ và cố định đạm từ khí trời. Trong quá trình phân giải vi sinh vật một mặt chuyển hoá các chất hữu cơ thành các chất khoáng đơn giản để nuôi sống cơ thể chúng, mặt khác nó lại tổng hợp nên một dạng chất hữu cơ đặc biệt trong đất. Đó là hợp chất mùn - thành phần cơ bản trong đất. Ngoài ra, động vật chúng chuyển hoá vật chất qua hoạt động sống, các vật chất khi qua cơ thể động vật trong đất đã chuyển hoá thành các chất dễ tiêu cho cây và có tác dụng xới xáo làm cho đất tơi xốp [7].

Nhìn chung độ phì của đất có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống của cây rừng, đá mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm lý hoá học của đất thông qua đó ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây rừng và của rừng. Ngược lại, rừng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất các đặc tính lý hoá học của đất và vi sinh vật đất. Thực vật màu xanh có tác dụng 6 đến quá trình phong hoá đá tăng cường tích luỹ chất hữu cơ trong đất. Với chức năng tự quang hợp, thực vật màu xanh đã tạo nên một lượng sinh khối lớn và khi chết đi đã trả lại cho đất toàn bộ lượng vật chất khô đó.

Thông thường 1ha cây xanh có thể trả lại cho đất bằng cành khô lá rụng cả nó khoảng20 - 25 tấn/năm. Chất hữu cơ từ xác thực vật đã làm tăng hàm lượng mùn trong đất, làm cho đất có kết cấu tốt hơn, chế độ nhiệt, nước thuận lợi hơn. Điều kiện khí hậu thuận lợi và thành phần vi sinh vật trong đất phong phú lại đóng góp tích cực vào quá trình phân giải thảm mục để biến thành mùn. Cây bụi thảm tươi là thành phần quan trọng trong quần xã rừng.

Mối quan hệ giữa cây bụi thảm tươi và cây rừng vừa có lợi vừa có hại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình quế rừng trồng tại Đào Thịnh, Trấn Yên, Yên Bái" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của mô hình trồng quế rừng, từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế mà nó mang lại cho người dân địa phương. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình sinh trưởng của cây quế mà còn chỉ ra những lợi ích kinh tế tiềm năng, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý kinh tế và phát triển bền vững, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn phát triển du lịch biển theo hướng bền vững tại thị xã cửa lò tỉnh nghệ an, nơi đề cập đến các chiến lược phát triển bền vững trong lĩnh vực du lịch. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về thu tiền sử dụng đất tiền thuế đất và thực tiễn áp dụng tại huyện yên châu tỉnh sơn la cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về quản lý đất đai, một yếu tố quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành quản lý kinh tế giải pháp tăng cường công tác quản lý đầu tư công trên địa bàn tỉnh lạng sơn, giúp bạn nắm bắt các giải pháp quản lý đầu tư hiệu quả trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay.