CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CƯU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở khoa học Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người. Sản phẩm chè hiện nay được tiêu dùng ở khắp các nước trên thế giới, kể cả các nước không trồng chè cũng có nhu cầu lớn về chè.
Ngoài tác dụng giải khát chè còn có nhiều tác dụng khác như kích thích thần kinh làm cho thần kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể. Trong điều kiện sản xuất hiện nay, chu kỳ kinh doanh của cây chè có thể 50 - 60 năm phụ thuộc vào giống, điều kiện đất đai, khí hậu và các biện pháp kỹ thuật. Chất lượng chè phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống như: Khả năng phân cành, đặc điểm hình thái, khả năng ra búp, sinh hoá búp và thời gian sinh trưởng búp của giống. Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [18], từ lúc bắt đầu hình thành phôi đến khi già chết (tự nhiên) đời sống tự nhiên của cây chè chia làm năm giai đoạn: Giai đoạn phôi thai: giai đoạn phôi hạt được tính từ khi tế bào trứng được thụ tinh bắt đầu phân chia, hình thành hạt, đến khi hạt chín (giai đoạn này kéo dài 15 tháng) hoặc từ khi phôi mầm phân hóa đến khi hình thành một cành mới có khả năng đem nhân giống vô tính (giai đoạn này kéo 60-80 ngày).
Đây là giai đoạn đầu tiên của cây chè chủ yếu nằm ở vườn chè giống lấy hạt hoặc cành Giai đoạn cây con: Tính từ khi thụ tinh tạo phôi (với cây được tạo ra từ hạt) hoặc từ khi nảy chồi (với cây được tạo ra từ giâm hom), thời kỳ này thường kéo dài 1 năm – 2 năm (chè hạt), từ 6-8 tháng (giâm cành). Tương ứng với thời kỳ này trong sản xuất gọi là thời kỳ vườn ươm và trồng mới nương chè. Giai đoạn cây non: Là thời kỳ cây chè bắt đầu sinh trưởng, phát triển trên nương chè nhưng chưa cho thu hoạch, thời kỳ này kéo dài 3 năm (với nương chè trồng bằng cây con được tạo ra bằng giâm hom), kéo dài 4 năm (với nương chè trồng bằng cây con được tạo ra bằng hạt), thời kỳ này cây chè sinh trưởng mạnh, tạo khung tán, hoa quả ít, trong sản xuất gọi là thời kỳ kiến thiết cơ bản. Đây là thời kỳ đầu tư xây dựng để cây chè phát triển khung tán to khỏe cho nhiều búp về sau.
Cần thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật chăm sóc chè non, trồng giặm, làm cỏ, bón phân, bảo vệ thực vật. Tiến hành đốn tạo hình nhằm hạn chế sinh trưởng đỉnh, kích thích mầm nách và mầm ngang phát triển, tạo cây chè có bộ khung tán to, khỏe, vững chắc, hái tạo tán là chủ yếu. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Giai đoạn cây lớn: Được tính từ khi cây chè bắt đầu có bộ khung tán ổn định, bước vào giai đoạn kinh doanh, thu hoạch đến khi cây chè bắt đầu suy giảm về sinh trưởng và năng suất, thời kỳ này kéo dài 20-30 năm tùy thuộc vào giống chè, điều kiện đất đai, khí hậu và điều kiện chăm sóc, trong sản xuất gọi là thời kỳ sản xuất kinh doanh. Thời kỳ này cây chè ổn định về sinh trưởng và khung tán do đó cần đầu tư chăm sóc tốt để kéo dài tuổi thọ, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Giai đoạn cây già cỗi: Là lúc cây suy giảm sinh trưởng, già cỗi và chết, biểu hiện dễ nhận biết ở thời kỳ này là các cành trên tán bị khô nhiều, có các cành vượt mọc lên từ gốc ở phía dưới tán chè, thời kỳ này cần chú ý chăm sóc bón nhiều phân hữu cơ và áp dụng kỹ thuật đốn đau và đốn trẻ lại. Trong điều kiện tự nhiên, cây chè có thể cao tới hàng chục mét, đường kính đạt tới hàng trăm centimet, phân cành mạnh, đường kính tán lớn, sức sống rất khoẻ, tuổi thọ cao có thể đạt tới hàng trăm tuổi (miền Bắc Việt Nam). Tiềm năng năng suất chè Shan rất cao, một cây chè cổ thụ có đốn hái và thu hoạch búp hàng năm có thể đạt trên 10 kg búp/1 lứa hái (Suối Giàng,Yên Bái).Trong điều kiện trồng tập trung thâm canh khả năng cho năng suất lớn hơn 20 - 25 tấn/ha (Nông trường chè Thanh Bình; Tam Đường; Than Uyên; Công ty chè Mộc Châu - Sơn La). Bên cạnh đó để vùng trồng chè trở thành vùng sản xuất hàng hoá, ngoài giống tốt và kỹ thuật nhân giống thích hợp cần có kỹ thuật trồng trọt thích hợp để tạo nương chè kinh doanh.
Cơ sở thực tiễn Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm là mục tiêu đầu tiên của tất cả các ngành sản xuất nói chung và ngành sản xuất chè nói riêng, ở Việt Nam với diện tích 131,5 nghìn ha chè thì chiếm 50% diện tích được trồng bằng giống mới (Viện quy hoach và Thiết kế nông nghiệp, 2016). Với cơ cấu giống như hiện nay thì việc cải tạo năng suất chè của Việt Nam còn rất nhiều khó khăn. Bên cạnh yếu tố năng suất, khi nhu cầu thị hiếu của con người ngày càng tăng cao thì chất lượng chè cũng là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng. Nhiều giống chè có năng suất không cao nhưng chất lượng tốt đang được chú trọng và phát triển trong sản xuất.
Để tạo nên chất lượng chè thành phẩm, yếu tố giống quyết định đến 50%, còn yếu tố độ cao, chăm sóc quyết định 30%, yếu tố công nghệ chế biến, thiết bị chỉ chiếm 20%. Tuy nhiên, trong thực tế việc đầu tư cho phục tráng một số giống chè tốt ở địa phương hoặc nhập khẩu các giống chè tốt của nước ngoài và cho nghiên cứu, phát triển về giống còn rất ít. Bên cạnh đó, một số giống chè tốt của chúng ta như chè Shan còn đang bị mai một, suy giảm chất lượng do không quan tâm đúng mức đến việc bảo toàn giống, phương thức quản lý nương đồi chè và thu hái không hợp lý. Chính vì thế chất lượng chè Việt Nam còn ở mức rất thấp so với thế giới, ảnh hưởng đến uy tín Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 và giá trị xuất khẩu.
Điều đó cho thấy nhu cầu đáp ứng các giống chè có năng suất, chất lượng cao phục vụ sản xuất là rất cần thiết. Do vậy, cần theo dõi, chọn lọc ra cây chè ưu tú có phẩm chất tốt của địa phương để nhân giống mở rộng diện tích, thay thế dần các giống chè cũ năng suất, chất lượng thấp tại địa phương. Để khai thác có hiệu quả và mở rộng diện tích, phát triển bền vững cây chè An Bằng là việc làm cấp bách. Cùng với nghiên cứu tuyển chọn những cây chè ưu tú chọn lọc bổ sung cho tỉnh, địa phương, công tác phát triển, chyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, xây dựng thương hiệu cho sản phẩn chè An Bằng tại các vùng chè.
Khôi phục và phát triển giống chè An Bằng sẽ góp phần nâng cao thu nhập cho đồng bào vùng núi, vùng đặc biệt kinh tế khó khăn của huyện. Những kết quả nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về giống chè trên thế giới Cây chè (Camellia sinensis (L) O. Kuntze) vốn là cây hoang dại, được sử sách Trung Quốc ghi lại từ rất lâu đời.
Trên thế giới, chè là thức uống có nhiều giá trị, nhiều hiệu quả và tác dụng lâu dài nhất. Theo các tác giả Vương Khâu Phi, Bộc Tể Nhật, Dương Hiền Cường thuộc Đại học nông nghiệp Triết Giang chỉ ra rằng chỉ một phiến lá chè nhỏ đã có trên 500 thành phần hoá học, bao gồm 6 nhóm vật chất có công hiệu bảo vệ sức khoẻ như các loại vitamin, chất purin loại kiềm, các chất phenol, các tinh dầu thơm, các chất axitamin và chất polysacaloza. Do quá trình thụ phấn chéo xảy ra phổ biến giữa các loài thuộc chi Camellia nên đã tạo ra quần thể con lai ở trạng thái di truyền lẫn tạp, cây chè Camellia sinensis cũng không nằm ngoài quy luật này. Cây chè có thể lai tốt với các giống hoang dại, do đó các nhà phân loại học luôn quan tâm xác định các cá thể lai này bởi qua đó có thể xác định được sự tham gia hình thành nên vốn gen (gene pool) cây chè của các giống hoang dại.
Có hai loài được đặc biệt quan tâm là C. taliensis vốn có đặc điểm hình thái tương đồng với cây chè. Một số loài khác thuộc chi Camellia cũng được cho là góp phần hình thành nên vốn gen của cây chè thông qua quá trình lai tự nhiên như C. taliensis được cho là lai giữa C.
Cho đến nay, các nhà khoa học cho rằng ba thứ chè C.assamica sub sp. lasiocalyx và ở chừng mực nào đó là C.irrawadiensis đều là các nhân tố chính tham gia hình thành nên vốn gen của cây chè. Có một thực tế là rất khó xác định liệu có tồn tại hay không một giống chè tự nhiên mang vật chất di truyền nguyên trạng không bị pha trộn. Bởi vậy khái niệm "Cây chè" bao trùm toàn bộ các giống, dòng là con lai của các thứ chè này.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Quá trình phát triển của cây chè gắn liền với sự phát triển của công tác chọn tạo giống chè. Từ lúc con người chỉ biết sử dụng các cây chè mọc tự nhiên, đến lúc biết thu quả để gieo trồng và lựa chọn những cây tốt. Ngày nay, riêng ở Trung Quốc đã có tập đoàn trên 1700 giống chè khác nhau phục vụ cho phát triển chè Quốc gia. Thế giới coi công tác chọn tạo giống chè là một nhiệm vụ quan trọng nhất để tạo ra sự đột biến của các sản phẩm mới, tạo ra sức cạnh tranh của sản phẩm.
Mục tiêu của chọn giống chè ngay nay không chỉ đơn thuần là tạo ra các giống có năng suất cao, mà phải là có chất lượng tốt cho từng loại sản phẩm.